Từ vai trò “gác cổng”…
Năm 1943, nhà tâm lý học người Đức K.Z.Lê-uyn nêu ra một lý thuyết gọi là “gác cổng”, vốn ban đầu chỉ được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực tâm lý nhưng sau này được áp dụng trong cả khoa học chính trị, xã hội học, nghiên cứu truyền thông, và nhất là báo chí. “Gác cổng” là quá trình mà thông tin được “lọc” để chuyển tải đến đối tượng tiếp nhận, dù là cho ấn phẩm in, phát thanh truyền hình, in-tơ-nét, hay các phương thức truyền thông khác. Yếu tố gác cổng xuất hiện ở tất cả các cấp độ của cấu trúc truyền thông – từ người phóng viên quyết định chọn nguồn tin nào đưa vào bài viết cho đến biên tập viên quyết định sẽ đưa bài nào lên báo, tin nào lên sóng truyền hình, và kể cả đối với những cơ quan chủ quản hay những ông chủ sở hữu các hãng tin lẫn các nhà quảng cáo.
Suốt hàng trăm năm phát triển của báo chí, đặc biệt là thời kỳ đỉnh cao vào thế kỷ 20 và mãi đến tận những năm đầu của thế kỷ 21, báo chí luôn gắn liền với lý thuyết gác cổng như thế. Trong rất nhiều sự kiện xảy ra mỗi ngày mỗi giờ, nhà báo có quyền chọn hoặc không chọn thông tin để đưa đến công chúng, còn người đọc, người nghe, người xem phụ thuộc khá nhiều vào thông tin trên mặt báo hoặc các kênh phát thanh - truyền hình.
Nhưng giờ đây, toàn bộ quy trình của báo chí đã được định hình lại. Các phương tiện để thu thập thông tin, tạo lập thông tin và truyền bá thông tin đã thay đổi mạnh mẽ nhờ những sự chuyển mình về công nghệ, vì thế cách thức “tiêu dùng” tin tức cũng thay đổi rất nhiều. Số lượng điện thoại còn lớn hơn cả số dân trên thế giới, và mọi người được kết nối qua hệ thống in-tơ-nét toàn cầu, giúp họ có thể truy cập, chia sẻ và thậm chí tự tạo ra tin tức. Nay những “người gác cổng”, các nhà báo và cả các cơ quan báo chí không còn là những kênh duy nhất trong cả khuôn khổ thông tin kết nối, nơi mà những “đại gia digital” mới như Google, Facebook hay Buzzfeed dường như đang chiếm ưu thế hơn cả những “ông lớn báo chí” lâu nay là BBC, CNN hay New York Times.
…đến hiện trạng truyền thông xã hội
Nhiều cơ quan báo chí đang thích nghi nhanh chóng với xu hướng kể trên bằng cách áp dụng những phương thức làm việc mới, những nền tảng mới và tạo ra những nguồn doanh thu mới. Tại Anh, Guardian được coi là mẫu hình “mở”. Họ tìm cách tăng cường sự hiện diện trên in-tơ-nét bằng cách nhắm tới mục tiêu là nhà cung cấp tin tức theo thiên hướng tự do hàng đầu thế giới với hàng loạt sản phẩm từ tin nóng (breaking news), các bài phóng sự điều tra chuyên sâu, các khóa học nấu ăn cho đến trang web hò hẹn. Buzzfeed có nguồn vốn đầu tư rất lớn để tạo ra những sản phẩm báo chí chất lượng cao nhờ làm ra những video hấp dẫn thuộc loại “sponsored content” (nội dung được tài trợ). Trong khi đó, Times of London chọn mô hình thu phí đồng thời với hàng loạt dịch vụ dành cho cộng đồng độc giả.
Tiếp theo những khái niệm mới như mojo (mobile journalism) đã xuất hiện thêm rất nhiều thuật ngữ trong báo chí như social journalism (làm báo bằng mạng xã hội), drone journalism (làm báo bằng máy bay không người lái), immersive journalism (làm báo sử dụng thực tại ảo) data journalism (báo chí dữ liệu) hay participatory journalism (làm báo với sự tham gia của nhiều đối tượng, đặc biệt là công chúng). Nhưng dù đang tự thay đổi rất nhiều và rất nhanh, báo chí vẫn đang vấp phải thách thức vô cùng to lớn từ truyền thông xã hội, mà ngoài những tên tuổi lớn như Facebook, Twitter, Snapchat thì còn rất nhiều công cụ và ứng dụng khác nữa, với những tính năng ưu việt riêng và thu hút được những cộng đồng riêng. Và, như một diễn biến tất yếu, người dùng đang quay sang mạng xã hội để tìm thông tin, thay cho một đích đến tưởng chừng bất di bất dịch là báo chí. Điều đáng lưu tâm là nhiều người sử dụng in-tơ-nét cho rằng thông tin trên báo chí đều đã qua “bộ lọc”, đều đã có những “người gác cổng” chặn bớt, trong khi thứ họ cần là thông tin thô, bởi người dùng giờ đây tự cho là đủ “thông thái” để quyết định cho bản thân họ. Chuyện này đang xảy ra trên thế giới, và cả ở Việt Nam. Có lẽ chúng ta không còn thấy lạ tai khi nghe ai đó nói “không tin được báo chí đâu”, song họ lại sẵn sàng tin và chia sẻ những status chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội.
Trong rất nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế về báo chí mà tôi có cơ hội tham dự, không ít lãnh đạo các hãng truyền thông cũng như các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng để tồn tại, báo chí không nên và không thể chạy đua với mạng xã hội. Nhưng hầu như báo nào cũng rơi vào cuộc đua “câu view”, bởi có người xem thì mới có doanh thu quảng cáo, trong bối cảnh miếng bánh quảng cáo dành cho báo chí cứ chạy dần sang các đối thủ công nghệ kiêm truyền thông. Thực tế cho thấy, trừ một số báo Bắc Âu cho biết tỷ lệ độc giả đọc báo của họ từ mạng xã hội không đáng kể, đa số các báo trên thế giới đều coi việc tiếp cận người đọc qua con đường này là không tránh khỏi bởi tỷ lệ truy cập trực tiếp cứ ngày càng thấp đi. Rất nhiều báo đã bắt tay với công cụ Instant Articles của Facebook hoặc Discover của Snapchat. Rất nhiều nhà báo coi mạng xã hội là một nguồn quan trọng để phát hiện thông tin và nhiều tờ báo coi đây là kênh phát hành thông tin không thể bỏ qua.
Chỉ trung thực mới được tin tưởng
Mạng xã hội giống như một đại dương lớn với đầy đủ thông tin tốt-xấu, có cả những đầu mối hữu ích để các nhà báo phát hiện ra chủ đề hay nhưng cũng đầy nội dung sai lệch, thậm chí giả mạo. Đã có những đoạn video, hình ảnh trên Facebook được vội vã “chế biến” để thành những tin bài đàng hoàng trên báo, và rồi sau đó phát hiện ra rằng đó chỉ là một sản phẩm trêu đùa trên mạng, thậm chí là những nội dung gây sốc mang mục đích xấu. Trong lúc nhiều độc giả giảm sút niềm tin vào báo chí và sẵn sàng chia sẻ nội dung trên mạng xã hội với những quan điểm định kiến và có phần cực đoan, có những nhà báo thay vì đi theo con đường chuyên nghiệp lại vội vã cung cấp những nội dung nhằm thu hút tâm lý đám đông, chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa.
Tác giả Sác-li Béc-ket từng viết trên trang European Journalism Observatory rằng, điều đầu tiên khẳng định vai trò của báo chí là phóng viên phải chứng kiến tận mắt sự việc với cái nhìn chuyên nghiệp, và biết cách khai thác từ cả rừng nguồn tin chung quanh. Ngay cả khi nhà báo không phải người đầu tiên biết được sự việc thì cũng phải có mặt tại hiện trường để có góc nhìn của riêng mình chứ không thể chỉ gom tin trên mạng thành bài viết. Họ phải biết cách thực hiện báo chí dữ liệu: để mang lại những thông tin trung thực, tin cậy, được trình bày theo cách thức dễ hiểu và mô tả được các vấn đề một cách chính xác. Nhưng họ cũng phải có sự cảm thông. Các tiêu chuẩn cơ bản của báo chí như không thiên vị, dựa trên chứng cớ và cân bằng vẫn còn nguyên giá trị, nhưng nhà báo giờ đây phải hiểu rõ yếu tố cảm xúc. Họ phải thấu hiểu đối tượng và sự phản hồi của độc giả để truyền tải được sự quan tâm của con người vào câu chuyện. Nếu họ làm vậy một cách minh bạch thì sẽ được tin tưởng. Nhà báo cũng phải khiêm tốn thừa nhận những lỗi lầm và phải chấp nhận một thực tế rằng không phải cái gì họ cũng biết. Nếu họ bảo đảm những quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp như thế thì người đọc sẽ đánh giá cao tác phẩm của họ.
Nhà báo cần phải xây dựng mối quan hệ niềm tin bền vững với công chúng và đây là cách hiệu quả nhất để kéo người dùng trở lại với báo chí và thậm chí bỏ tiền ra mua báo. Tạo dựng niềm tin nghĩa là mỗi nhà báo phải nỗ lực để mang một dịch vụ đến với công chúng chứ không chỉ thuần túy là bán một sản phẩm.
Các tiêu chuẩn cơ bản của báo chí như không thiên vị, dựa trên chứng cớ và cân bằng vẫn còn nguyên giá trị, nhưng nhà báo giờ đây phải hiểu rõ yếu tố cảm xúc. Họ phải thấu hiểu đối tượng và sự phản hồi của độc giả để truyền tải được sự quan tâm của con người vào câu chuyện. Đó là cách để đưa độc giả quan tâm trở lại.