Mở rộng không gian phát triển từ hội nhập

Việt Nam đã ký kết và thực thi 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 60 đối tác, song chỉ 21,6% số doanh nghiệp cho biết hiểu rõ hoặc rất rõ về các FTA. Điều này cho thấy, dư địa nâng cao hiệu quả tận dụng và thực thi FTA còn lớn.

Tận dụng các ưu đãi từ FTA giúp doanh nghiệp duy trì đơn hàng và sức cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu. Ảnh: NAM ANH
Tận dụng các ưu đãi từ FTA giúp doanh nghiệp duy trì đơn hàng và sức cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu. Ảnh: NAM ANH

“Cánh cửa” để bước ra thị trường quốc tế

Là doanh nghiệp có nhiều năm xuất khẩu hàng dệt may, ông Thân Đức Việt, Tổng Giám đốc Tổng công ty May 10 cho biết, trong bối cảnh thương mại toàn cầu tiếp tục diễn biến khó lường, việc tận dụng các ưu đãi từ FTA đang trở thành giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì đơn hàng và sức cạnh tranh tại các thị trường xuất khẩu.

Các FTA mang lại lợi thế về thuế quan, nhưng để hưởng được ưu đãi, doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều yêu cầu về quy tắc xuất xứ, môi trường và phát triển bền vững. Đây là thách thức lớn đối với ngành dệt may. Vì vậy, doanh nghiệp đã và đang đẩy nhanh quá trình chuyển đổi theo hướng xanh hóa bằng cách đầu tư vào nhà máy đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, tăng sử dụng năng lượng sạch, thay đổi nguyên liệu và quy trình sản xuất để đáp ứng yêu cầu của khách hàng quốc tế.

Theo TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) TP Hà Nội, mạng lưới các FTA ngày càng rộng giúp doanh nghiệp tiếp cận nhiều thị trường lớn, đa dạng hóa đối tác và giảm sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Các FTA cũng góp phần thúc đẩy doanh nghiệp cải thiện năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đặc biệt, các hiệp định thế hệ mới với những cam kết cao về lao động, môi trường, sở hữu trí tuệ và phát triển bền vững đang tạo động lực để doanh nghiệp đổi mới mô hình sản xuất, hướng tới tăng trưởng xanh.

Đặc biệt, đối với khu vực DNNVV, việc Việt Nam tham gia ngày càng nhiều FTA giúp DNNVV có thêm một “cánh cửa” để bước ra thị trường quốc tế, thay vì chỉ phụ thuộc vào sức mua trong nước hoặc một số đối tác truyền thống. Trước hết, ưu đãi thuế quan giúp giảm chi phí khi hàng hóa Việt Nam vào các thị trường đối tác, tạo thêm dư địa về giá để DNNVV cạnh tranh với doanh nghiệp đến từ các quốc gia khác. Khi thị trường được mở rộng, doanh nghiệp cũng có điều kiện đa dạng hóa khách hàng, phân tán rủi ro và chủ động hơn trước những biến động về nhu cầu hoặc chính sách thương mại tại từng thị trường.

Quan trọng hơn, FTA tạo ra cơ hội để DNNVV tham gia vào các chuỗi cung ứng lớn. Khi các tập đoàn quốc tế tìm kiếm nhà cung ứng tại Việt Nam để tận dụng lợi thế từ các FTA, DNNVV có cơ hội trở thành một mắt xích trong chuỗi sản xuất, cung ứng nguyên liệu, linh kiện hoặc dịch vụ.

Từ đó, FTA tạo động lực để DNNVV thay đổi mô hình kinh doanh. Doanh nghiệp không thể chỉ cạnh tranh bằng giá hoặc dựa vào lợi thế nhân công, mà phải đầu tư vào công nghệ, chuyển đổi số, quản trị chất lượng, xây dựng thương hiệu và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.

“FTA không chỉ mở thêm thị trường mà còn mở ra cơ hội để DNNVV nâng cấp chính mình. Nếu tận dụng tốt, đây sẽ là động lực để DNNVV tăng quy mô, nâng giá trị sản phẩm, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn”, ông Mạc Quốc Anh nhấn mạnh.

Nâng năng lực thực thi

Tuy mạng lưới FTA ngày càng rộng, khả năng khai thác các cam kết của doanh nghiệp vẫn còn hạn chế. Theo Báo cáo kết quả thực hiện các Hiệp định thương mại tự do của các địa phương năm 2025 (FTA Index 2025) từ 4.066 doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, khoảng cách lớn hiện nay nằm ở khâu tiếp cận thông tin, hiểu cam kết và chuyển hóa các ưu đãi thành lợi ích thực tế.

Cụ thể, chỉ 21,6% số doanh nghiệp cho biết “biết rõ” hoặc “biết rất rõ” về các FTA, trong khi 32,2% mới nắm ở mức cơ bản và 18,4% hoàn toàn không biết. Mức độ hiểu biết còn thấp hơn ở doanh nghiệp nhỏ, khi tỷ lệ không biết về FTA lên tới 23,7%. Điều này khiến không ít doanh nghiệp chưa xác định được thị trường phù hợp, chưa nắm rõ điều kiện để hưởng ưu đãi và bỏ lỡ cơ hội từ các hiệp định.

Hạn chế còn nằm ở khả năng tiếp cận thông tin khi chỉ 17,6% doanh nghiệp thường xuyên tham dự các sự kiện liên quan đến FTA và 15,3% thường xuyên truy cập các cổng thông tin điện tử. Trong khi đó, 29% hoàn toàn không sử dụng kênh sự kiện và 26% không sử dụng cổng thông tin điện tử. Đáng chú ý, doanh nghiệp đánh giá thông tin dự báo có độ tin cậy tương đối cao nhưng lại chưa đáp ứng tốt về tính cụ thể và kịp thời.

Về hoạt động hỗ trợ, có 58,2% số doanh nghiệp cho biết đã tiếp cận các chương trình hỗ trợ FTA tại địa phương, trong khi 41,8% chưa từng tiếp cận. Nhu cầu của doanh nghiệp hiện vẫn tập trung chủ yếu vào những hỗ trợ trực tiếp để tìm kiếm và tạo đơn hàng, trong khi nhu cầu về công nghệ, nhân lực và hỗ trợ giải quyết tranh chấp đều dưới 20%.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, trong giai đoạn mới, hội nhập kinh tế quốc tế cần chuyển từ tư duy mở cửa thị trường sang chủ động tạo động lực cho cải cách, hoàn thiện thể chế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Việc thực thi các FTA phải thật sự mở rộng không gian phát triển cho từng ngành, lĩnh vực, địa phương, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của Việt Nam.

Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị các địa phương cần coi thực thi FTA là một bộ phận trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu, thay vì chỉ xem đây là nhiệm vụ của ngành Công thương hay Ngoại giao. Sau khi FTA Index được công bố, từng địa phương cần xây dựng chương trình hành động, xác định những điểm nghẽn lớn để xử lý.

Các bộ, ngành cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đơn giản hóa thủ tục và tăng cường chia sẻ dữ liệu. Hệ thống thông tin về FTA cần được xây dựng đồng bộ, dễ tiếp cận. Cùng với cung cấp thông tin, cơ quan quản lý cần chuyển từ phổ biến chính sách chung sang hỗ trợ theo nhu cầu của từng doanh nghiệp, ngành hàng và địa phương. Bộ Công thương cũng được đề nghị tiếp tục đàm phán các FTA thế hệ mới, đồng thời hoàn thiện FTA Index theo hướng ổn định, minh bạch và có khả năng so sánh qua các năm.

Theo Phó Thủ tướng Thường trực, Việt Nam đã dành nhiều nguồn lực để đàm phán và ký kết các hiệp định, nhưng hiệu quả khai thác các cam kết vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, doanh nghiệp cần chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao quản trị, xây dựng thương hiệu, đáp ứng tiêu chuẩn xanh, tiêu chuẩn lao động, truy xuất nguồn gốc và các yêu cầu ngày càng cao của thị trường. Các hiệp hội ngành hàng cũng cần phát huy vai trò kết nối, cung cấp thông tin, hỗ trợ doanh nghiệp và hình thành các hệ sinh thái liên kết, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Có thể bạn quan tâm