Hỗ trợ nền kinh tế bằng chi phí vốn

Yêu cầu giảm lãi suất cho vay trong bối cảnh chi phí vốn còn cao đặt ngành ngân hàng trước bài toán nan giải. Tuy nhiên, với nền tảng lợi nhuận tích cực cùng những thành quả về số hóa và nâng cao năng suất, đã đến lúc các ngân hàng chuyển hóa dư địa này thành chi phí vốn thấp hơn cho nền kinh tế.

Sau chỉ đạo, thị trường đã ghi nhận làn sóng điều chỉnh lãi suất cho vay với mức giảm từ 0,5-2,5% so năm trước. Ảnh: NGUYỆT ANH
Sau chỉ đạo, thị trường đã ghi nhận làn sóng điều chỉnh lãi suất cho vay với mức giảm từ 0,5-2,5% so năm trước. Ảnh: NGUYỆT ANH

Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu giảm thực chất lãi suất cho vay, đưa tín dụng vào đúng lĩnh vực, đúng thời điểm. NHNN cũng dự kiến lấy mức độ thực hiện yêu cầu này làm căn cứ giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng (room tín dụng) năm 2027.

Ngân hàng cần “nhả” bớt lợi nhuận

Yêu cầu giảm lãi suất cho vay được Thủ tướng đưa ra trong bối cảnh chi phí vốn của nền kinh tế duy trì ở mức cao và không còn tập trung ở một vài nhóm ngân hàng. Khảo sát thị trường cho thấy, lãi suất ưu đãi đối với các khoản vay mua nhà, vay tiêu dùng hiện phổ biến 9-10%/năm trong thời gian đầu, thậm chí có nơi vượt 11%/năm.

Với các khoản vay ngắn hạn khác, lãi suất thường dao động 7,5-9%/năm trong 3-9 tháng đầu hoặc khoảng 8,5%/năm trong sáu tháng đầu. Khoảng cách lãi vay giữa nhóm ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng tư nhân cũng đang thu hẹp.

Đằng sau xu hướng này là mặt bằng lãi suất huy động liên tục đi lên từ cuối năm 2025. Lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng hiện phổ biến 7-8%/năm; với một số khoản tiền gửi lớn, mức lãi suất thỏa thuận có thể lên tới khoảng 9%/năm. Trong khi nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn rất lớn.

Ngay sau chỉ đạo của Thủ tướng Lê Minh Hưng và NHNN, thị trường đã ghi nhận làn sóng điều chỉnh lãi suất cho vay với mức giảm từ 0,5-2,5% so năm trước. Động thái này còn lan sang nhiều ngân hàng cổ phần.

Trong nhóm ngân hàng chủ lực, Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank lần lượt triển khai các chương trình tín dụng quy mô từ 50.000-70.000 tỷ đồng, tập trung vào doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cùng các lĩnh vực ưu tiên. Lãi suất được điều chỉnh thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức cho vay bình quân cùng kỳ hạn.

Khối ngân hàng cổ phần cũng nhanh chóng nhập cuộc. MSB dành 3.000 tỷ đồng cho chương trình có lãi suất từ 8,5%/năm. Sacombank giảm 2%/năm lãi suất cho vay đối với khách hàng xuất nhập khẩu, đồng thời bố trí thêm 10.000-15.000 tỷ đồng cho các gói tín dụng ưu đãi.

Nhiều ý kiến cho rằng yêu cầu các ngân hàng giảm lãi suất cho vay là hợp lý. Bởi trong nhiều năm qua, thị trường vẫn tồn tại một nghịch lý, doanh nghiệp thiếu vốn, khó tiếp cận tín dụng hoặc phải vay với chi phí cao, trong khi nhiều ngân hàng liên tiếp ghi nhận lợi nhuận kỷ lục.

Báo cáo PCI 2025 cho thấy hơn 21% số doanh nghiệp coi tiếp cận tài chính là khó khăn lớn nhất; 8,2% không thể vay hoặc không dám nộp hồ sơ. Khoảng 75% số doanh nghiệp không thể vay nếu thiếu tài sản thế chấp.

Tỷ lệ khoản vay yêu cầu tài sản bảo đảm tại Việt Nam lên tới 93,5%, cao hơn mức bình quân toàn cầu 68,3%. Bên cạnh đó, 56,3% số doanh nghiệp phải chịu điều kiện tín dụng và lãi suất khắt khe hơn doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhà nước; 45% cho rằng thủ tục vay còn phiền hà.

Trong khi đó, báo cáo của SSI Research cho biết, nhóm ngân hàng mà đơn vị này theo dõi đạt 95.700 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. Sự tương phản này không có nghĩa lợi nhuận ngân hàng là bất hợp lý, nhưng đặt ra yêu cầu các nhà băng phải chia sẻ nhiều hơn với nền kinh tế. “Sức khỏe” của doanh nghiệp cũng quyết định chất lượng tín dụng và nguồn lợi nhuận tương lai của ngân hàng.

Dư địa phải được tạo ra từ hiệu quả

Ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường đại học Nguyễn Trãi cho rằng, việc phân bổ hạn mức dựa trên kết quả giảm lãi suất sẽ buộc các tổ chức tín dụng chú trọng hơn đến chi phí huy động, năng suất và năng lực quản trị.

Tuy nhiên, lãi suất chỉ có thể giảm bền vững khi chi phí vốn và chi phí vận hành của ngân hàng cùng được tiết giảm. Nếu lãi suất cho vay giảm trong khi chi phí huy động vẫn cao, rủi ro có thể xuất hiện sau một độ trễ và ảnh hưởng đến an toàn hệ thống.

Khi phân bổ room tín dụng năm 2027, NHNN cần đánh giá đồng thời năng lực quản trị rủi ro, chất lượng tài sản, chi phí vốn,... của từng ngân hàng.

Bộ tiêu chí cần minh bạch, có thể định lượng và có độ trễ phù hợp để phân biệt giữa việc chậm giảm lãi suất do thiếu nỗ lực với những hạn chế khách quan về nguồn vốn và thanh khoản. Về dài hạn, mục tiêu không phải tạo ra nguồn tín dụng rẻ nhất, mà là bảo đảm dòng vốn có chi phí hợp lý, được phân bổ đúng doanh nghiệp, đúng lĩnh vực và tạo ra năng suất cao nhất.

TS Nguyễn Trung Kiên, chuyên gia kinh tế cho rằng, dư địa giảm lãi suất bền vững phải được tạo ra từ quá trình tái cấu trúc hoạt động của chính các ngân hàng. Các nhà băng cần đẩy mạnh số hóa quy trình tín dụng, cắt giảm giấy tờ và thời gian thẩm định...

Nếu ngân hàng vẫn chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp, nhiều doanh nghiệp có đơn hàng, dòng tiền ổn định và mô hình kinh doanh khả thi vẫn khó tiếp cận vốn với chi phí hợp lý.

Theo ông Kiên, ngân hàng cần tăng tỷ trọng chấm điểm tín dụng dựa trên dòng tiền thực, hóa đơn điện tử, lịch sử thuế của doanh nghiệp. Ngân hàng có thể giảm lãi suất cho những khách hàng có năng lực tài chính tốt mà không phải nới lỏng các tiêu chuẩn an toàn.

Ở góc độ thực thi, PGS, TS Nguyễn Văn Phương, giảng viên Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, yêu cầu quan trọng sau chỉ đạo của cơ quan điều hành là phải thiết lập cơ chế kiểm chứng kết quả. Cơ quan quản lý cần định kỳ công bố lãi suất cho vay bình quân theo từng nhóm khách hàng, kỳ hạn và lĩnh vực ưu tiên; theo dõi tỷ lệ giải ngân thực tế của các gói tín dụng ưu đãi; đồng thời tiếp nhận phản ánh về những khoản phí hoặc điều kiện làm tăng tổng chi phí vốn.

Thực tế hoạt động của các ngân hàng cũng cho thấy, bài toán giảm lãi suất bền vững không đơn giản khi áp lực chi phí vốn là khá lớn. Tuy nhiên, đây không phải yêu cầu ngân hàng hy sinh lợi nhuận bằng mọi giá. Hoạt động ngân hàng gắn với tiền gửi của người dân và an toàn hệ thống. Nhưng thận trọng cũng không thể là lý do để các gói hỗ trợ dừng ở con số công bố, còn doanh nghiệp vẫn khó vay.

Sau một giai đoạn Chính phủ giảm, giãn thuế, phí, thúc đẩy đầu tư công và NHNN hỗ trợ thanh khoản, sự chia sẻ của ngân hàng cần được nhìn như một phần của chính sách phục hồi. Doanh nghiệp thiếu vốn, thu hẹp hoạt động hôm nay có thể trở thành tăng trưởng tín dụng thấp và nợ xấu của ngân hàng ngày mai. Đây là bài toán tổng thể về chi phí vốn, thanh khoản, chất lượng tín dụng, hiệu quả vận hành và mức độ minh bạch của thị trường.

Có thể bạn quan tâm