Mở rộng các kênh vốn cho tăng trưởng

Với nhu cầu vốn lên tới 38,5 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2026-2030, Việt Nam cần phát triển mạnh thị trường vốn để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn trung, dài hạn quan trọng của nền kinh tế. Ảnh: NAM NGUYỄN
Thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn trung, dài hạn quan trọng của nền kinh tế. Ảnh: NAM NGUYỄN

Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, mỗi năm cần khoảng 7,7 triệu tỷ đồng trong giai đoạn 2023 - 2026 (gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025).

Giảm sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng

Theo bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong sáu tháng đầu năm 2026, chính sách tiền tệ và tín dụng tiếp tục góp phần tạo nền tảng cho GDP tăng 8,18%.

NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng và các dự án trọng điểm; đồng thời rà soát, hoàn thiện cơ chế tín dụng, đơn giản hóa thủ tục và tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp. Hơn 1.000 cuộc gặp gỡ, đối thoại và kết nối ngân hàng - doanh nghiệp đã được tổ chức trên toàn quốc.

Cùng với đó, các chương trình tín dụng chuyên ngành tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực. Chương trình cho vay lĩnh vực nông, lâm, thủy sản có doanh số giải ngân lũy kế hơn 225.577 tỷ đồng, đạt 122% mục tiêu. Chương trình tín dụng nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33 của Chính phủ có doanh số giải ngân 12.440 tỷ đồng, dư nợ đạt 10.175 tỷ đồng. Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đã giải ngân khoảng 4.400 tỷ đồng. Chương trình tín dụng dành cho hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược có dư nợ 11.649 tỷ đồng.

Tuy nhiên, đại diện NHNN cảnh báo hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%, cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc rất lớn vào vốn ngân hàng.

Nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và tạo áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.

Vì vậy, bên cạnh điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt, cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

“Đây là những điều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, đồng thời giữ vững ổn định vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính ngân hàng”, bà Giang nêu rõ.

Trong bối cảnh đó, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục mở rộng mạnh mẽ và ngày càng khẳng định vai trò là kênh dẫn vốn trung, dài hạn quan trọng của nền kinh tế.

Theo ông Hà Duy Tùng, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), tính đến ngày 30/6/2026, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 10,8 triệu tỷ đồng, tăng 6% so cuối năm 2025 và tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025. Toàn thị trường có 54 doanh nghiệp đạt mức vốn hóa hơn 1 tỷ USD, trong đó 4 doanh nghiệp vượt mốc 10 tỷ USD. Quy mô thị trường trái phiếu niêm yết đạt khoảng 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương 22,1% GDP.

Đặc biệt, việc FTSE Russell công bố nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp có thể giúp Việt Nam thu hút hàng tỷ USD từ các quỹ chỉ số và quỹ đầu tư chủ động. HSBC và Ngân hàng Thế giới ước tính thị trường Việt Nam có thể thu hút khoảng 8-10 tỷ USD trong dài hạn.

“Thị trường chứng khoán giúp doanh nghiệp đa dạng hóa nguồn vốn, huy động vốn dài hạn cho đầu tư hạ tầng, đổi mới công nghệ và mở rộng sản xuất, đồng thời giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Không chỉ vậy, đây còn là kênh chuyển nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư vào sản xuất, kinh doanh, qua đó giúp người dân cùng tham gia và hưởng lợi từ tăng trưởng của doanh nghiệp”, đại diện UBCKNN đánh giá.

Chuyển dần vào khoa học-công nghệ

Bên cạnh dư địa phát triển, thị trường chứng khoán vẫn đối mặt với không ít rủi ro. TS Cấn Văn Lực, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia cho rằng, dòng tiền và vốn hóa vẫn tập trung vào một số ngành, doanh nghiệp lớn. Tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân cao, tâm lý đám đông mạnh, tính minh bạch, chuyên nghiệp và đa dạng về sản phẩm, cơ cấu nhà đầu tư còn hạn chế.

Đáng chú ý, dư nợ cho vay ký quỹ tại các công ty chứng khoán tăng từ khoảng 125.000 tỷ đồng cuối quý I/2023 lên 445.000 tỷ đồng cuối quý II/2026, tương đương hơn 3,5 lần. Nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính ngày càng lớn, tiềm ẩn rủi ro đáng kể, nhất là khi thị trường đảo chiều.

Cùng với đó, thị trường tài chính đang đối mặt với những rủi ro mới về an ninh mạng, dữ liệu và tội phạm tài chính. Hạ tầng công nghệ, cơ sở dữ liệu và hệ thống giám sát cần tiếp tục hoàn thiện để thị trường minh bạch, an toàn và có khả năng chống chịu tốt hơn. Khung pháp lý cũng phải theo kịp các mô hình, sản phẩm tài chính mới, đồng thời kiểm soát chặt sở hữu chéo và rủi ro liên thông giữa tài chính với bất động sản.

Vì vậy, cần một chương trình tổng thể để phát triển thị trường tài chính theo hướng thống nhất giữa các phân khúc, đồng thời mở rộng các nguồn vốn dài hạn và định chế tài chính phi ngân hàng. Những lĩnh vực mới như tài chính số, tài chính xanh, thị trường carbon và tài sản mã hóa cũng cần được phát triển theo lộ trình phù hợp, đi cùng với năng lực quản lý và giám sát.

Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế phá sản, xử lý nợ và các tổ chức tài chính yếu kém; xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia, hệ thống cảnh báo sớm và chuyển mạnh từ tiền kiểm hành chính sang giám sát dựa trên rủi ro, công nghệ và dữ liệu. Về lâu dài, phát triển thị trường tài chính cần dựa trên ba nền tảng: Thể chế đáng tin cậy, thông tin minh bạch và kỷ luật thị trường nghiêm minh.

Tuy nhiên, ông Lực cũng lưu ý không thể duy trì lâu dài mô hình tăng trưởng chủ yếu dựa vào vốn và lao động. Chúng ta cần chuyển dần sang dựa vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách thể chế và nâng cao năng suất. Vì vậy, Việt Nam cần đi tắt, đón đầu bằng cách kết hợp đồng thời ba yếu tố gồm đầu tư, hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay vì phát triển tuần tự.

Còn theo GS, TS Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, trí tuệ nhân tạo (AI) có thể trở thành một trong những động lực quan trọng giúp Việt Nam duy trì tăng trưởng hai con số trong dài hạn. Điều này phụ thuộc vào tốc độ ứng dụng AI và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Nếu không tận dụng, nền kinh tế chỉ có thể duy trì tốc độ tăng trưởng khoảng 6,5%. Với kịch bản tăng tốc, tăng trưởng có thể đạt khoảng 9%. Trong khi đó, khi được triển khai mạnh mẽ và lan tỏa rộng trong nền kinh tế, Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên trong giai đoạn 2027-2035.

Bên cạnh đó, nguồn lực cần được tập trung vào bốn lĩnh vực có tác động lan tỏa lớn, gồm: Công nghệ thông tin và truyền thông, tài chính - ngân hàng, khoa học - công nghệ và công nghiệp chế tạo. Đây là những ngành hiện chiếm khoảng 37% GDP nhưng có khả năng tạo ra hơn 50% tác động của AI, qua đó lan tỏa sang khoảng 10-12 ngành kinh tế khác.

“Tốc độ hành động và năng lực hấp thụ công nghệ hôm nay sẽ trực tiếp quyết định kịch bản tăng trưởng của Việt Nam trong thập kỷ tới”, ông Đạt nhấn mạnh.

Có thể bạn quan tâm