Ngân hàng đang quá tải
Theo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, lãi suất liên ngân hàng dù đã hạ nhiệt so với mức đỉnh kỷ lục trong quý I/2026, nhưng vẫn neo ở mức cao trong quý II do áp lực thanh khoản cục bộ. Nguyên nhân là ngành ngân hàng đã bơm khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào nền kinh tế trong nửa đầu năm 2026, khiến tăng trưởng tín dụng vượt xa huy động và đẩy tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) lên cao. Sự lệch pha này gây áp lực về thanh khoản trong hệ thống ngân hàng cho đến nay.
PGS, TS Võ Đình Trí từ Trường IPAG Business School Paris (Pháp) nhận định, hệ thống ngân hàng hiện đang gặp áp lực thanh khoản do tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tốc độ huy động vốn. Tình trạng này vẫn diễn ra mặc dù ngày 30/7/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định 1743/QĐ-NHNN nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại từ 20% lên 50% khi xác định tỷ lệ LDR trong hai năm.
Theo ông Lê Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Dragon Capital, để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% mỗi năm, Việt Nam cần khoảng 1.500 tỷ USD nguồn vốn trong 5 năm tới. Đáng chú ý, khu vực tư nhân đóng vai trò nòng cốt khi cần tới khoảng 776 tỷ USD, một con số vượt qua cả quy mô GDP hiện tại của Việt Nam (500-510 tỷ USD) và tương đương với tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng hiện khoảng 750-760 tỷ USD. Chỉ riêng nhu cầu vốn từ bốn tập đoàn lớn đã lên tới khoảng 65 tỷ USD.
Trong bối cảnh đó, hệ thống ngân hàng bắt đầu xuất hiện sự chênh lệch giữa tốc độ huy động và cho vay, với khoảng cách tăng dần từ mức 34 tỷ USD vào cuối năm 2024 lên khoảng 68 tỷ USD vào đầu năm 2026 và hiện tiệm cận mốc 90 tỷ USD. Nguồn cung tiền gửi ngân hàng khó lòng gánh vác toàn bộ lượng cầu lớn này.
Tính toán từ Dragon Capital chỉ ra rằng, tín dụng ngân hàng truyền thống nhiều khả năng chỉ đáp ứng được khoảng 25-30% nhu cầu vốn doanh nghiệp trong nửa thập kỷ tới. Các dòng vốn ngoại như đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) đóng góp thêm khoảng 15-20%.
Tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện ở mức 146%. Mức này chưa đến mức báo động, vẫn thấp hơn Malaysia, Thái Lan nhưng cao hơn một số quốc gia phát triển như Mỹ, Đức. “Nếu tín dụng tiếp tục tăng 15-16%/năm trong 5 năm tới, tỷ lệ này sẽ vượt qua Thái Lan, Singapore và tiệm cận Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, biến Việt Nam thành một trong những nước có tỷ lệ cao nhất châu Á. Vì vậy, Việt Nam chỉ còn khoảng 3-5 năm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng trước khi chạm ngưỡng”, ông Lê Anh Tuấn nói.
Khơi thông dòng vốn huy động mới
Theo đánh giá của các chuyên gia, giới hạn của hệ thống ngân hàng là khả năng huy động vốn và chịu đựng rủi ro, chứ không phải quy mô tín dụng. Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, cuộc đua lãi suất sẽ bùng nổ, chi phí vốn toàn nền kinh tế sẽ tăng cao. Do đó, việc phát triển đa dạng thị trường vốn như: Trái phiếu, cổ phiếu là giải pháp cấp bách giảm tải cho hệ thống ngân hàng và bảo đảm nguồn vốn bền vững.
TS Võ Đình Trí đánh giá kinh nghiệm từ các nền kinh tế phát triển cho thấy, thị trường vốn sẽ giúp giảm sự phụ thuộc quá mức của doanh nghiệp vào tín dụng ngân hàng. Cụ thể, thị trường cổ phiếu giúp doanh nghiệp gia tăng đệm vốn tự có và nâng cao khả năng chống chịu trước các biến động tài chính, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp đóng vai trò cung ứng nguồn vốn dài hạn, giúp doanh nghiệp chủ động kế hoạch tài chính mà không gây áp lực lên bảng cân đối của ngân hàng. Việc đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, nâng cao tính minh bạch và phát triển đồng bộ cả hai kênh trái phiếu lẫn cổ phiếu là yêu cầu bắt buộc để kiến tạo một cấu trúc tài chính đa tầng, vững chắc và bền vững cho nền kinh tế trong dài hạn.
PGS, TS Nguyễn Hữu Huân, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, dù giữ vai trò đặc biệt quan trọng, hệ thống ngân hàng về bản chất vẫn là trung gian tín dụng hoạt động dựa trên nguồn tiền gửi, trong khi các dự án hạ tầng và công trình trọng điểm lại yêu cầu nguồn vốn có kỳ hạn dài. Việc tiếp tục sử dụng vốn huy động ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay dài hạn sẽ khiến rủi ro kỳ hạn và rủi ro thanh khoản ngày càng tích tụ trên bảng cân đối của các ngân hàng.
Vì vậy, cấu trúc nguồn vốn cho nền kinh tế cần được chuyển đổi theo hướng đa tầng. Vốn ngắn hạn cần có dòng tiền trả nợ rõ ràng. Phần vốn dài hạn phải được chia sẻ qua thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu dự án, các quỹ đầu tư hạ tầng...
Theo ông Lê Anh Tuấn, khi đầu tư vào doanh nghiệp thông qua việc mua cổ phần, nhà đầu tư đang rót vốn chủ sở hữu vào doanh nghiệp. Lúc này, người sở hữu cổ phiếu sẽ trở thành cổ đông và là chủ sở hữu một phần của doanh nghiệp.
Vốn cổ phần là nguồn vốn có kỳ hạn dài nhất khi không tạo áp lực hoàn trả dòng tiền hàng năm cho cổ đông. Trong khi đó, trái phiếu lại sở hữu thời hạn xác định, đòi hỏi mỗi đợt phát hành phải có mục đích sử dụng vốn và kỳ hạn tương ứng với quy mô cũng như tiến độ của dự án.
“Nhận thức rõ bản chất này, các cơ quan quản lý hiện đã đặt ra những mục tiêu phát triển rất cụ thể khi đưa quy mô thị trường chứng khoán từ mức 60-70% GDP hiện nay lên khoảng 120% GDP, đồng thời mở rộng thị trường trái phiếu doanh nghiệp từ 15% lên khoảng 40% GDP”, ông Lê Anh Tuấn đánh giá.
Ở góc độ khác, ông Nguyễn Ngọc Tùng, Giám đốc Quỹ VinaCarbon gợi ý, nghĩa vụ môi trường sẽ trở thành cơ hội huy động vốn khi doanh nghiệp biến các yêu cầu xanh thành tài sản có thể đo lường, kiểm chứng và tạo giá trị kinh tế. Thay vì xem giảm phát thải, xử lý chất thải hay phát triển rừng là chi phí tuân thủ, doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị tốt để biến chúng thành động lực tiếp cận vốn quốc tế.
Khả năng thu hút nguồn vốn này phụ thuộc vào năm yếu tố quyết định: Chất lượng và khả năng tiêu thụ của tín chỉ carbon; hiệu quả kinh tế tự thân của dự án ngay cả khi giá carbon giảm; sự rõ ràng của khung pháp lý về quyền sở hữu và chuyển nhượng; năng lực thực thi cùng hệ thống kiểm chứng của doanh nghiệp và khả năng mở rộng mô hình.