Kỳ 1: Ký ức không quên
Rời chiến trường Việt Nam, nhiều cựu binh Mỹ mang theo những kỷ vật của đối phương mà họ tìm thấy. Trong những năm tháng ấy, họ không hay biết có những người mẹ, người vợ, người con hằng năm cứ đến ngày liệt sĩ hy sinh lại thắp hương tưởng nhớ con, chồng, cha mình trên ban thờ không di ảnh.
1/Đã hơn nửa thế kỷ nhưng cựu chiến binh Clay Andrews, 77 tuổi, sống tại bang Florida, Mỹ vẫn không thể quên buổi chiều định mệnh ấy. Đó là chiều chủ nhật ngày 23/7/1967, đơn vị Clay bị bộ đội Việt Nam phục kích khi đang di chuyển lên đỉnh một ngọn đồi thuộc Plei Ya Bo, Gia Lai. Cuộc giao chiến diễn ra ác liệt trong vài giờ khiến nhiều người chết. Bom rơi, pháo nổ, súng AK và M16 bắn xối xả qua đầu. Khói lửa, tiếng la hét khiến nơi đây trở nên hỗn loạn khủng khiếp.
“Tài xuất hiện trước mặt tôi. Anh ấy mặc quân phục, đội chiếc mũ lưỡi trai nhỏ, mang theo khẩu AK47 và một con dao. Một phần chân của Tài đã bị mất do trúng đạn pháo. Tài leo lên một cành cây to và chĩa súng bắn vào tôi. Chúng tôi cách nhau khoảng 10m. Tôi đã bắn trả và Tài chết ngay lập tức. Nỗi khiếp sợ dồn dập khiến tôi không thể ngừng uống nước và hút thuốc, hết điếu này đến điếu khác. Tài nằm chết trước mặt tôi. Tôi không bao giờ quên được ngày khủng khiếp đó”, Clay kể.
Clay Andrews sinh năm 1945, tham gia chiến trường Việt Nam tháng 7/1967, thuộc Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ. Ngay khi đặt chân đến Gia Lai, trung đội trinh sát 35 người do Clay chỉ huy đã có cuộc đụng độ với bộ đội Việt Nam. Sau khi bắn chết người lính trẻ Phạm Tuấn Tài, Clay đã tìm thấy cuốn sổ nhật ký trong túi áo và quyết định giữ nó.
Hơn nửa thế kỷ lưu giữ kỷ vật của người lính Việt Nam ấy, Clay luôn cảm thấy day dứt, ân hận và hối tiếc về hành động của mình. “Trong suốt những năm qua, tôi đã tự hỏi hàng triệu, hàng triệu lần tại sao lại là tôi, tại sao lại là Tài. Đã có những lúc trong đời, tôi ước rằng người nằm đó là tôi chứ không phải là Tài”.
Clay không nhớ nổi đã bao lần mình mở cuốn nhật ký ra xem, ngắm nhìn những bức ảnh đen trắng, những dòng chữ được sắp xếp như những vần thơ và những bức tranh hoa tự họa được tô vẽ khéo léo bằng bút chì mầu, miên man suy nghĩ về chủ nhân của cuốn nhật ký. Anh ấy là ai trong số những bức ảnh này và cuốn sổ nhật ký viết điều gì?
Trong những năm tháng già đi, Clay càng thêm day dứt, trăn trở về cuốn nhật ký và mong muốn trao trả gia đình người lính Phạm Tuấn Tài. “Tôi cảm thấy mình cần phải trao trả kỷ vật này cho nơi nó thuộc về nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Cho đến khi tôi gặp Steve Edmunds và biết được ông ấy đang dự định trở lại Việt Nam”, Clay chia sẻ.
2/Cũng giống như Clay Andrews, chàng thanh niên 22 tuổi John Cimino thực hiện nghĩa vụ quân sự tại chiến trường Việt Nam từ tháng 11/1967, thuộc Đại đội B, Trung đoàn 3/8, Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ. Ngày 26/3/1968, trong khi đơn vị di chuyển qua khu vực vừa xảy ra một cuộc không kích thuộc cao điểm 995 Chư Tan Kra, Kon Tum, John nhìn thấy thi thể một người lính Bắc Việt nằm trong cái hố nông. Ở túi áo của anh ấy có một vật gì đó sắp rơi ra ngoài, John cúi xuống nhặt lên, đó là một chiếc ví. “Kể từ khi đến Việt Nam, tôi chưa bao giờ làm điều gì tương tự như thế. Tôi cất chiếc ví vào ba-lô và mang theo suốt hành trình”, John Cimino kể.
Xuất ngũ tháng 11/1968 trở về nhà, John bảo quản chiếc ví trong một chiếc hộp bằng bìa cứng. Nhiều lần, John ngồi im lặng hàng giờ ngắm nhìn chiếc ví, những bức ảnh chân dung, bức thư đã nhàu, rồi tự hỏi: Những người trong bức ảnh là ai? Bức chân dung nào là của người lính ấy? Người con gái trong ảnh là vợ hay bạn gái của anh ta? Bức thư viết điều gì? Sau cùng, John lại cho tất cả vào chiếc ví rồi cất trong chiếc hộp.
Gần 50 năm, John chưa từng cho ai ngoài gia đình xem chiếc ví kỷ vật. “Khi tôi và Steve Edmunds thảo luận về việc trở lại Việt Nam để gặp gỡ các cựu chiến binh Trung đoàn 209 - những người trong quá khứ là đối thủ trực tiếp, chúng tôi đã thống nhất với nhau rằng, đây là lúc cần trao lại kỷ vật cho gia đình anh ấy”.
Trong những năm lưu giữ kỷ vật của những người lính Việt Nam, cả John và Clay luôn cảm thấy có gì đó rất kỳ lạ giống như là mình đang có nhiệm vụ bảo vệ cuộc sống và ký ức của người đã chết thay vì chỉ là kỷ vật chiến tranh. Chính điều đó đã thôi thúc họ trở lại Việt Nam hoặc tìm cách thông qua các tổ chức, cá nhân khác để trao trả những kỷ vật cho gia đình liệt sĩ.
3/Khi Bùi Quang Hưng được một tuổi thì cha tạm biệt gia đình để đi làm “công nhân gang thép”. Mẹ anh, bà Nguyễn Thị Xung không thể ngờ ông đi mãi không về. Cho đến một ngày, bà bàng hoàng nhận được giấy báo tử chồng hy sinh tại mặt trận phía nam. Với Hưng, những thông tin về cha mình được mẹ góp nhặt kể lại chỉ có vậy. Không một tấm hình, không một kỷ vật nào của cha để lại, bao năm không có tin tức gì về nơi hy sinh và phần mộ của cha ở đâu. Hai mẹ con Hưng sống côi cút trong vất vả, đói nghèo của những năm tháng chiến tranh ở một làng quê thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Khi Hưng học hết lớp 7 thì làng có phong trào đi xây dựng kinh tế mới. Hai mẹ con anh cũng theo dân làng di cư vào tỉnh Đắk Lắk để tạo lập cuộc sống. “Trước ngày ra đi, mẹ tôi thắp hương khấn vái tổ tiên, ông bà và cha tôi xin phép được di chuyển bát hương vào Nam. Ngày hôm ấy, lần đầu tiên tôi thấy mẹ tôi khóc rất nhiều kể từ khi tôi lớn lên. Trong nhòe nhoẹt nước mắt, mẹ tôi rất khó khăn để thu dọn, gói ghém các vật dụng cần thiết mang theo. Bà luôn tủi phận phải một mình nuôi con và con lớn lên không biết mặt cha, dù chỉ là qua một tấm hình…”.
![]() |
| Anh Bùi Quang Hưng thắp hương tưởng nhớ cha mình tại Chư Tan Kra, nơi liệt sĩ Bùi Quang Dực hy sinh. |
Hơn 40 năm kể từ khi chồng hy sinh ngoài mặt trận, bà Xung chưa khi nào nguôi ngoai nỗi buồn vì sự ra đi của chồng. Cho đến một ngày, bà bất ngờ nhận được tin tức về chồng mình. “Hôm đó tôi đi làm rẫy về bỗng thấy mẹ vui hơn mọi ngày. Rồi mẹ khoe rằng có tin tức về bố tôi từ những người đồng đội. Dù không có kỷ niệm nào cùng bố, nhưng tin vui đó khiến tôi hình dung một cuộc đoàn tụ ấm áp. Cha tôi đã trở về!”, anh Hưng, con trai duy nhất của liệt sĩ Bùi Quang Dực xúc động kể.
Những ngày sau đó, bà Xung cứ bồn chồn trông ngóng. Một buổi trưa, bà nhận được phong thư từ Hà Nội. Tay bà run run mở bì thư, bên trong có tờ giấy khổ A4 in mấy bức ảnh. Bà ngắm nhìn vài giây rồi ngồi khuỵu xuống ghế lặng người đi. Một lúc sau, bà nghẹn ngào nói với con trai: “Cái ảnh chính giữa là bố con... Hơn 40 năm rồi bố mới chịu về với mẹ con mình đấy”. Nói rồi bà khóc, đôi vai già yếu rung rung…
Trong hàng trăm nghìn liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, có rất nhiều liệt sĩ ra đi không kịp gửi về cho gia đình một tấm hình, một bức thư hay để lại kỷ vật gì. Thật may mắn, có những di vật liệt sĩ đã được lưu giữ, bảo quản và trao trả từ những người lính ở phía bên kia chiến tuyến.
(Còn nữa)
