Hiện hữu nguy cơ “hình thức hóa” ESG

Các doanh nghiệp lớn như Hòa Phát, TH true Milk hay FPT đều đã đầu tư bài bản cho các sáng kiến xanh và chủ động công bố báo cáo phát triển bền vững theo chuẩn quốc tế.
Các doanh nghiệp lớn như Hòa Phát, TH true Milk hay FPT đều đã đầu tư bài bản cho các sáng kiến xanh và chủ động công bố báo cáo phát triển bền vững theo chuẩn quốc tế.

Với vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi sản xuất toàn cầu, hiện khả năng đáp ứng các tiêu chí về ESG (môi trường, xã hội và quản trị) đã gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, tại Việt Nam, ESG vẫn còn là khái niệm tương đối mới, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), khi chỉ có khoảng 30% doanh nghiệp bước đầu quan tâm hoặc triển khai các hoạt động liên quan ESG.

Trong khi đó, với quyết tâm mạnh mẽ, Việt Nam đã cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và đang từng bước hình thành các nền tảng cho tăng trưởng xanh như thị trường carbon và các chính sách tài chính xanh. Vấn đề đặt ra ở thời điểm này là dòng vốn ESG toàn cầu được dự báo sẽ tiếp tục tăng mạnh, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam làm thế nào để giữ được đơn hàng, thu hút được nhà đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu?

Bức tranh ESG của doanh nghiệp Việt Nam cũng đã được nhóm nghiên cứu Viet Research phác thảo trong Báo cáo “Sáng tạo để Tăng trưởng, Xanh để Bền vững” với nhiều chuyển biến tích cực, dù chưa đồng đều. Trong khi các doanh nghiệp lớn như: Hòa Phát, Vietnam Airlines, TH true Milk hay FPT đã đầu tư bài bản cho các sáng kiến xanh, phát triển thép phát thải thấp, phát hành trái phiếu xanh và chủ động công bố báo cáo phát triển bền vững theo chuẩn quốc tế, thì có đến hơn 97% số doanh nghiệp Việt Nam, chủ yếu là DNNVV, vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu vốn, nhân lực, dữ liệu phát thải và hạn chế trong tiếp cận tài chính xanh.

Trong báo cáo này, nhóm nghiên cứu Viet Research cũng đã đưa ra cảnh báo về sự hiện hữu nguy cơ “hình thức hóa” ESG, khi không ít doanh nghiệp mới dừng ở việc công bố báo cáo hoặc thực hiện các hoạt động mang tính đối phó, thay vì tích hợp ESG vào chiến lược kinh doanh.

Thực tế, không ít doanh nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với việc thiếu các quy định rõ ràng và đồng bộ về ESG. Điều này dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp không thể áp dụng một hệ thống tiêu chuẩn chung và minh bạch khi thực hiện ESG, khiến cho việc đo lường và báo cáo kết quả trở nên khó khăn. Song, như chia sẻ về vấn đề này của ông Nguyễn Quang Huân, nguyên đại biểu Quốc hội khóa XV, “rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở nhận thức của doanh nghiệp mà ở khoảng trống về thể chế”.

Bởi cho đến thời điểm hiện nay, khi cam kết “phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050” đã được khởi động, song Việt Nam vẫn chưa có một khung ESG thống nhất ở cấp quốc gia; chưa xây dựng bộ tiêu chí theo từng ngành; còn thiếu cơ chế công bố, giám sát và đánh giá độc lập...

Vì vậy, theo nhóm nghiên cứu Viet Research, để ESG thật sự trở thành động lực phát triển, yêu cầu cấp bách hiện nay là Việt Nam cần sớm xây dựng Khung ESG quốc gia với lộ trình phù hợp; ưu tiên ban hành bộ tiêu chí cho các lĩnh vực trọng điểm như năng lượng, hạ tầng, tài chính, sản xuất và cấp nước trước khi mở rộng sang các ngành khác.

Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế minh bạch thông tin, phát triển tài chính xanh, tăng cường đào tạo, tư vấn và chuyển giao công nghệ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp triển khai ESG một cách hiệu quả.

Với Việt Nam, hiện thực hóa cam kết “phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050”, mục tiêu cuối cùng không phải là có thêm nhiều báo cáo ESG, mà là cần xây dựng được một hệ thống thể chế đủ hiệu quả để ESG cùng với chuyển đổi số trở thành động lực nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo giá trị cho doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới ■