Bước vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, Chính phủ luôn bám sát, thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, góp phần xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh cho doanh nghiệp phát triển. Những nỗ lực này là nền tảng quan trọng kiến tạo niềm tin và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, qua đó tạo động lực tăng trưởng mới, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, vẫn còn một số tồn tại, thậm chí là nghịch lý, chưa được giải quyết dứt điểm. Đơn cử như trong lĩnh vực quản lý thuế giá trị gia tăng (GTGT): Chính sách liên tục sửa đổi, song hoàn thuế vẫn ách tắc, vốn bị giam, chi phí đội lên nhất là ở thời điểm cuối năm. Sự thiếu thống nhất về chính sách đã khiến doanh nghiệp khó dự liệu nghĩa vụ, thậm chí đối mặt nguy cơ bị truy thu hoặc chậm hoàn thuế dù đã thực hiện theo hướng dẫn, bị giam vốn, tăng chi phí và giảm sức cạnh tranh...
Không chỉ vướng ở khâu xác định thuế suất, sự thiếu rõ ràng còn thể hiện trong cách kê khai thuế GTGT. Theo phản ánh của nhiều doanh nghiệp, chỉ tiêu điều chỉnh đầu vào có thể tập hợp nhiều khoản khác bản chất. Do các khoản điều chỉnh không được phân tách rõ, cơ quan thuế khó nhận diện nguồn gốc từng khoản, còn doanh nghiệp phải giải trình nhiều hơn khi hồ sơ được rà soát. Trong khi, nếu tách mã giao dịch hoặc bổ sung phụ lục để phân biệt từng trường hợp, qua đó có thể giảm vướng mắc trong kê khai và hoàn thuế.
Nghịch lý là bởi tồn tại những cách hiểu và áp dụng thiếu thống nhất khiến doanh nghiệp đối mặt rủi ro về dòng tiền. Ví như với ngành gỗ, thực tế đã có thực trạng hồ sơ nhập khẩu tương tự nhưng cách áp dụng thuế GTGT có thể khác nhau. Có doanh nghiệp đã nộp thuế 8% khi nhập khẩu nhưng gặp vướng mắc khi đề nghị hoàn lại, do hàng hóa được xác định thuộc đối tượng không chịu thuế.
Vướng mắc trong kê khai, hoàn thuế và xác định đối tượng chịu thuế khiến doanh nghiệp bị giam vốn, phát sinh thêm chi phí và khó chủ động kế hoạch sản xuất. Thế nên, doanh nghiệp cứ mãi lúng túng về cơ chế xử lý khoản thuế đã nộp, khiến vốn lưu động tiếp tục bị giam, hồ sơ chậm khiến hàng ùn lại, phát sinh thêm phí lưu container, lưu bãi...
Nghịch lý còn xuất hiện ngay trong cách hướng dẫn và kiểm tra. Cụ thể, liên quan hàng hóa bán vào khu phi thuế quan theo Điều 17 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, hàng hóa phải được tiêu dùng trực tiếp phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu mới đủ điều kiện hưởng thuế suất 0%. Song, hồ sơ theo Điều 18 chủ yếu gồm hợp đồng, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt và tờ khai hải quan, lại chưa làm rõ tài liệu bên bán cần lưu để chứng minh mục đích sử dụng hàng hóa của bên mua.
Ở đây, bên bán rất khó kiểm soát việc sử dụng hàng hóa sau khi bàn giao. Nếu doanh nghiệp chế xuất chuyển hàng vào thị trường nội địa, bên bán vẫn có nguy cơ bị truy thu hoặc xử phạt. Và thế là doanh nghiệp có thể gánh rủi ro từ những hành vi nằm ngoài khả năng kiểm soát.
Thiết nghĩ, chính sách chỉ thật sự tháo gỡ khó khăn khi doanh nghiệp có thể làm đúng ngay từ đầu, thay vì tiếp tục gánh rủi ro vì cách hiểu khác nhau. Do đó, muốn mở lối ra cho sản xuất, kinh doanh cần xử lý tận gốc những nghịch lý, cách hiểu “vênh nhau” và sửa ngay các quy định còn bất cập để giảm rủi ro trong quá trình thực thi, đồng thời làm rõ cách kê khai thuế GTGT, cách phối hợp liên ngành để tránh đẩy rủi ro về phía doanh nghiệp. Bởi mỗi khoản thuế bị treo đều bào mòn dòng tiền và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp