“Gác chèo lên ta nướng ngô khoai...”

Điệu “Lý kéo chài” rộn rã chân sóng cùng chúng tôi theo đội ghe đi biển của các thôn ấp vùng cửa biển Cái Đôi Vàm, Cà Mau về bờ, tiếng điện đàm rộn ràng từ tàu này qua tàu kia báo về bờ rằng đang trúng luồng cá khoai đầu mùa gió chướng.
Bộ đội biên phòng gặp gỡ, thăm hỏi ngư dân sau chuyến đi biển.
Bộ đội biên phòng gặp gỡ, thăm hỏi ngư dân sau chuyến đi biển.

Đang cao điểm cá về hội quân, những vầng đáy hối hả kéo biển bạc lao xao về giữa lòng ghe. Ngoài biển bận mải tay lưới, trong bờ lao xao chuẩn bị đón cá về. Giá cá khoai hiện khá cao bởi loại hải sản này có chất bổ dưỡng cao, nấu ăn ngon và luôn khan hiếm. Đã vậy, người dân ở những vùng cửa biển lớn ở vùng đất Mũi như Sông Đốc, Khánh Hội, Cái Đôi Vàm còn có nghề truyền thống chế biến khô cá khoai thành đặc sản, thu hút hàng trăm lao động.

Xôn xao mùa hội cá

Ông Tư Minh, một trong những ngư phủ đầu tiên cắm đất lập làng cá ở Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân cho biết, thường thì mùa hội cá là vào cuối hạ sang đầu thu và kết thúc vào cuối đông. Có lẽ cũng chính bởi về mùa đông cá biển thường nhiều và ngon hơn nên người Bắc mới có câu “mùa hạ cá sông, mùa đông cá biển”. Song với ngư dân của vùng đất cuối trời Tổ quốc, thì vào những tháng Giêng, Hai, ghe thuyền của họ sẽ khẳm cá nếu đi lưới vào dịp này.

Cá khoai sinh sống ở những vùng nước nông ngoài biển và thường đi thành đàn, thường có tên gọi khác là cá cháo vì thịt cá mềm và hương vị rất hấp dẫn. Trước đây, loại cá này không có mấy người ăn nên giá rẻ như cho. Ngư dân gặp luồng cá cũng không thèm hốt bởi có đánh được nhiều thì cũng chỉ bán được cho các bà, các chị mang về nấu cho heo. Giờ thì cá khoai đã “lên đời” như cách nói của người đi biển. Các ghe thuyền đua nhau đánh bắt cá khoai nên cá ngày một hiếm nên giá đắt giật mình. Ở Tây Nam Bộ, giá mỗi kg cá tươi thường chỉ dao động khoảng 80 nghìn đồng thì ở phía bắc, bạn phải mất ít nhất vài ngày lương mới có thể tạo cho gia đình mình một bữa lẩu cá khoai “đã miệng”.

Khi thời tiết se lạnh, nước biển đổi từ mầu xanh biếc sang mầu xám ngắt thì cũng là thời điểm ngư phủ ra quân đánh cá. Đặc biệt là những ngày trời trở mù thì nhất định chẳng có ghe nào về mà không làm bến cá “đầy đất, chật bãi”. Thạch Phơn - một ngư phủ làm thuê cho đội ghe của ông Tư Minh thì khoái nhất đi khơi vào những ngày mùa từ đầu tháng 10 và kéo dài đến tháng 2 âm lịch năm sau. Khi đó, khắp các cửa biển Cà Mau đều mở hội cá khoai. Ghe này chưa cập bờ nhả cá thì ghe khác đã rùng rùng chuyển lái hướng ra khơi.

Mỗi chuyến biển về, sau khi chuyển cá tươi cho thương lái, các bạn thuyền sẽ được chủ cho đốt những đống lửa lớn ngay trên bãi. Thành quả của họ được chế biến thành đủ món theo “gu” nhậu của từng đội. Rồi họ tập trung lại vừa đờn ca tài tử, vừa uống rượu đế chính gốc Cà Mau và tận hưởng vị ngọt của cá, vị cay xé của ớt hiểm, vị thơm nhẹ của lá quế xắt nhỏ từ những nồi cá nấu chua hay cháo cá. Đàn hát tới khuya, lúc cái bao tử đã long lỏng thì sẵn có khô cá khoai giúp cái bụng đỡ cồn cào. Ngủ một đêm “mát trời ông Địa” ngay trên bãi, sớm sau, ai cũng vâm vam sức lực để tiếp tục bám biển vàng, luôn tay “hốt cá bạc”!

Do mỗi tháng chỉ có hai con nước đánh bắt nên những người tham gia đội quân làm khô cá thường chỉ có chừng mươi ngày là bận việc. Thời gian còn lại, họ chuyển sang làm nghề khác hoặc ngồi chơi đợi con nước sau.

Cá bạc dưới nắng vàng

Dù mới bắt đầu vào mùa hội cá nhưng những mẻ lưới đầu tiên hứa hẹn sẽ tiếp tục trúng mùa. Sau mỗi con nước, các ghe thuyền ở các cửa biển nội tỉnh và một số tỉnh lân cận như Kiên Giang, Bạc Liêu chở cá đến bán cho chủ vựa tại thị trấn Cái Đôi Vàm. Từ nguồn nguyên liệu dồi dào này, nhiều chủ vựa nơi đây đã tung vốn ôm cá tươi và thuê nhân công chế biến thành cá khô thương phẩm. Mùa cá khoai cũng nghiễm nhiên trở thành mùa có cơ hội kiếm tiền nhiều nhất trong năm đối với người dân Phú Tân và các vùng cửa biển Cà Mau.

Nghề làm khô cá khoai không nặng nhọc so với các nghề biển khác nên nhân công thường là phụ nữ hoặc những người đã có tuổi, sức khỏe yếu. Công việc của họ là làm sạch cho cá rồi móc từng chùm cá tươi lên giàn sào phơi cá được thiết kế cao chừng 5-6 m. Những giàn phơi thấp thì có thể dùng tay máng cá lên, còn trên giàn cao thì cần phải có thêm một cây gỗ dài để hỗ trợ. Nếu thạo nghề, mỗi người có thể phơi được trên dưới 10 cần xé cá tươi. Cả ngày họ sẽ phải quẩn quanh chịu nắng giữa hàng ngang, hàng dọc giàn phơi để trở cá và chạy cá nếu bất chợt có mưa. Những người kém sức hơn thì tham gia công đoạn làm ruột, cắt vây cá và làm sạch.

Theo ông Tám Bé, một chủ vựa làm khô cá khoai ở Cái Đôi Vàm ra giàn phơi. Dưới nắng gắt, ba bốn phụ nữ bịt bùng kín mít đang vươn tay phơi cá. Từng cặp cá khoai xếp ken dày sát nhau, lớp này xế lớp kia, hàng này sau hàng khác cứ dập dờn dồn đuổi nhau theo hướng gió. Khi nắng mạnh là thời điểm lý tưởng để phơi cá, nhưng nếu gặp thời tiết xấu thì những giàn cá trị giá tiền tỷ đương nhiên phải đổ đi vì chưa có các lò sấy. Đã vào cuối thu, nắng vẫn còn đậm chan chan trên cá bạc. Mùi cá nồng nhưng không quá tanh nên có thể đứng giữa hàng chục giàn phơi mà không cảm thấy lợm giọng khó chịu.

Cứ 7 kg cá tươi sẽ cho ra 1 kg khô nên ước tính mà các hộ làm nghề khô cá khoai ở Cái Đôi Vàm cung cấp cho thị trường từ 300 đến 500 tấn khô mỗi năm. Bán ngay tại giàn, giá mỗi kg là 130 nghìn đồng nên các hộ thu lãi ròng từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng không phải là chuyện khó. Nhưng ông Bé cũng bày tỏ lo ngại rằng năm nay, dự báo thời tiết được cho là thất thường, rất dễ gặp mưa trái mùa nên sự ăn thua của các chủ vựa cũng chông chênh không kém việc đi biển.

Qua nhiều thập kỷ, nghề chế biến khô cá khoai đã trở thành nghề truyền thống gắn liền với đời sống của người dân miền biển Cái Đôi Vàm. Chính quyền huyện Phú Tân cũng đã thành lập tổ hợp tác sản xuất và xây dựng nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm cá khô khoai Cái Đôi Vàm nhằm bảo tồn và phát triển làng nghề bền vững. Được như vậy, thì những mùa hội biển sẽ luôn là những mùa vàng đem lại ấm no cho người dân nơi cửa sóng này.

Có thể bạn quan tâm