Chiến lược "tự nhiên"
Có thể, năm 2014 không phải là năm "được mùa" đối với ngành lúa gạo Việt Nam. Cùng với việc xuất hiện thêm nhiều đối thủ cạnh tranh trong khu vực, số lượng cũng như giá trị xuất khẩu gạo của chúng ta đã chững lại năm thứ ba liên tiếp, với chỉ khoảng 6,5 triệu tấn. Lý giải cho thực trạng này, một lãnh đạo trong ngành xuất khẩu gạo nhìn nhận: "Nguyên nhân cơ bản là gạo Việt Nam vừa không có thương hiệu, chất lượng lại thấp (70% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam là gạo có phẩm cấp thấp - gạo 25% tấm), nên khó tiếp cận vào các phân khúc thị trường cao cấp".
Một chuyên gia kinh tế dùng hình ảnh "chiến lược tự nhiên" để nói về việc xuất khẩu gạo thiếu bài bản của Việt Nam. Chúng ta chưa có những phân tích thị trường lúa gạo một cách bài bản, chưa trả lời được những câu hỏi như: Đối thủ cạnh tranh của chúng ta là ai? Khách hàng là ai? Và vì thế chiến lược marketing cho lúa gạo phải như thế nào để phù hợp với khách hàng?... Hệ quả tất yếu là việc xuất khẩu gạo vẫn mang dáng dấp "buôn thúng bán mẹt", theo kiểu "ai mua thì bán" và "bán thứ mình có chứ không phải thứ thị trường cần", "lấy số lượng bù chất lượng" - vị chuyên gia này nhấn mạnh. Trong khi đó, nhờ có chiến lược đúng đắn, Thái-lan vẫn duy trì được vị thế số một, bất chấp sự cạnh tranh dữ dội từ các quốc gia khác. Theo đó, họ chọn cách "không đối đầu với các đối thủ" bằng hai giải pháp chính: Thứ nhất: Xuất khẩu gạo thơm, gạo đặc sản với giá rất cao nhằm tạo thương hiệu "gạo Thái" và tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm, nâng cao lợi tức cho người trồng lúa. Thứ hai: Không thâm canh tăng vụ để lấy sản lượng như Việt Nam mà giữ đất phì nhiêu, bảo vệ môi trường để cho chất lượng tốt.
Tạo dựng chuỗi giá trị cho hạt gạo
Theo TS R.Giê-i-glơ (Robert Zeigler), Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI), đã đến lúc ngành lúa gạo Việt Nam cần phải cải tiến nhiều mặt, bao gồm cả về phương thức sản xuất lúa gạo, chọn tạo giống lúa, và đáp ứng những nhu cầu về dinh dưỡng gia tăng ở Việt Nam cũng như đóng góp cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam... Ông cho rằng: "Giống lúa và chế biến sau thu hoạch là hai trong số các khâu yếu nhất của ngành lúa gạo. Để cải thiện chất lượng, Việt Nam cần xây dựng thương hiệu, nâng cao giá trị gia tăng và cải thiện thu nhập của người nông dân. Đến lúc cần thay đổi cách chọn tạo giống nhằm tập trung vào các giống lúa chất lượng cao hơn. Đồng thời, cũng cần cơ cấu lại thị trường xuất khẩu. Thay vì mở rộng thị trường ở nhiều nước với giá rẻ thì nên có những điểm tập trung với giá cao hơn. Muốn làm được điều này, cần đầu tư mạnh mẽ cho khâu chế biến sâu sau thu hoạch".
Trên thực tế, Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) Cao Đức Phát cũng đã từng khẳng định: "Điều quan trọng không phải là số lượng nông sản chúng ta đứng nhất thế giới, cái chính là nâng cao thu nhập bền vững cho nông dân. Tái cơ cấu phát triển nông nghiệp phải bắt đầu từ phát triển thị trường, tạo điều kiện cho nông dân và doanh nghiệp áp dụng giống mới, tiếp cận nhiều hơn quy trình sản xuất, cơ giới hóa, chế biến để nâng cao giá trị gia tăng hàng nông sản". Đích thân Bộ trưởng Cao Đức Phát đã đặt hàng các viện, trường chọn tạo các giống lúa có giá trị xuất khẩu trên 600 USD/tấn gạo, chứ không chỉ dao động ở ngưỡng 400 USD/tấn như hiện nay. Bước đầu, đã có một số địa phương thuộc vùng ĐBSCL triển khai theo hướng này. Điển hình như các giống lúa thơm mang tên ST của Sóc Trăng hiện nay đạt giá trị xuất khẩu từ 600 đến 700 USD/tấn gạo. Năm 2014, diện tích trồng lúa thơm của tỉnh này đạt 83 nghìn ha, tăng 26 nghìn ha so với năm 2013. Gắn với diện tích này, Sóc Trăng đã xây dựng được 163 điểm sản xuất theo cánh đồng lớn với gần 15 nghìn hộ nông dân tham gia sản xuất với 19 nghìn ha. Rất nhiều doanh nghiệp trong vùng đã và đang đầu tư vào nhiều vùng nguyên liệu tại Sóc Trăng để tạo lập thương hiệu, và có thị trường tiêu thụ gạo thơm ổn định ở một số nước.
Ông Huỳnh Thế Năng - Tổng Giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Nam (Vinafood 2) đã đưa ra một chiến lược quan trọng: Thay đổi tư duy tiếp cận thị trường. Từ phương thức mua "gạo" sang tiếp cận "lúa" để kiểm soát chất lượng đầu vào cho chế biến xuất khẩu. Kèm theo là hợp tác, liên kết xây dựng vùng nguyên liệu sản xuất theo tiêu chí cánh đồng lớn gắn với nhãn hiệu gạo. Cụ thể, theo ông Huỳnh Thế Năng, chúng ta cũng phải "học Thái-lan", xác định thị trường xuất khẩu theo hai dòng sản phẩm. Dòng gạo trắng thông dụng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường không đòi hỏi chất lượng cao. Dòng gạo thơm với hai loại: gạo thơm chất lượng cao xâm nhập vào thị trường khó tính, có thể cạnh tranh với Thái-lan, Ấn Độ, Pa-ki-xtan (Pakistan); và gạo thơm có chất lượng tương đối để cạnh tranh các thị trường còn lại. Đây là hướng xác định khá cụ thể và phù hợp với diễn biến thị trường gạo trên thế giới.
Nói như Bộ trưởng Cao Đức Phát: "Tái cơ cấu phát triển nông nghiệp trước tiên phải thay đổi nhận thức, cách nghĩ, cách làm... Cụ thể là phải chuyển từ số lượng sang nâng cao giá trị, đặc biệt là giá trị gia tăng". Vấn đề còn lại là các doanh nghiệp liệu có đủ sức thực hiện "chiến lược" này hay không?
| Chiến lược sáu điểm Viện Nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đưa ra đề xuất chương trình hiện đại hóa ngành lúa gạo Việt Nam. Theo đó, giai đoạn 2015-2020, tập trung vào sáu sáng kiến gồm: Lai tạo các giống lúa chất lượng cao và sản xuất thương mại các loại gạo đặc sản, đáp ứng được sở thích của người tiêu dùng trong và ngoài nước, xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam, giảm tổn thất trước và sau thu hoạch trong chuỗi giá trị lúa gạo, các biện pháp giảm thiểu biến đổi khí hậu ở địa phương vì một chuỗi giá trị đàn hồi. |