Cả bốn FTA đều được đánh giá là các thỏa thuận thương mại thế hệ mới, với tiêu chuẩn cao hơn, toàn diện và bền vững. Các bên đều là những đối tác thương mại hàng đầu và quan trọng. ASEAN hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba (sau Mỹ và EU), nhưng là đối tác cung cấp nguồn hàng hóa quan trọng cho Việt Nam. Trong TPP, có hai nền kinh tế lớn là Mỹ và Nhật Bản, cùng nhiều đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam. Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất, nhà đầu tư số một và đối tác thương mại lớn thứ 4, trong khi Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, dù đầu tư trực tiếp chỉ xếp vị trí thứ 7. EU là đối tác thương mại lớn thứ hai và đã có 23 trong số 28 thành viên đầu tư vào Việt Nam. Hàn Quốc cùng năm thành viên EAEU là Nga, Bê-la-rút, Ca-dắc-xtan, Ác-mê-ni-a và Cư-rơ-gư-xtan đều là những đối tác quan trọng của Việt Nam.
Liên kết sâu rộng hơn với các đối tác kinh tế quan trọng bậc nhất như vậy mang đến nhiều lợi ích cho Việt Nam. Điều dễ thấy nhất, đó là nền kinh tế hướng xuất khẩu của Việt Nam có thêm nhiều cơ hội mở rộng thị trường. Loại bỏ thuế quan, giảm bớt hàng rào phi thuế quan giúp hàng hóa, dịch vụ, vốn và lao động lưu chuyển thông thoáng hơn. Môi trường thương mại minh bạch, cùng với việc đơn giản hóa thủ tục hải quan, giảm thiểu chi phí giao dịch thương mại góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh, từ đó mở rộng đầu tư ra bên ngoài.
Thâm nhập các thị trường lớn và mạnh, Việt Nam trở nên hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài mạnh hơn so các nước trong khu vực. Thị trường xuất khẩu rộng mở, thuế suất thấp, cùng các lợi thế truyền thống là nguồn lao động dồi dào, khéo léo, cần cù và giá nhân công hợp lý giúp Việt Nam thu hút vốn đầu tư với các dự án chất lượng cao, có thể trở thành địa bàn trung chuyển, kết nối hoạt động đầu tư của các đối tác bên ngoài với khu vực Đông - Nam Á. Các FTA tiêu chuẩn cao không chỉ mở ra cơ hội tiếp cận nguồn công nghệ hiện đại, học hỏi kỹ năng quản lý, nâng cao tay nghề, tạo thêm việc làm cho người lao động, mà còn giúp đẩy nhanh tiến trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam nhằm hỗ trợ thực thi các cam kết…
Tuy nhiên, tham gia các liên kết kinh tế lớn như vậy cũng đặt ra không ít thách thức, khi xuất phát điểm kinh tế Việt Nam thấp, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chưa cao. Những lình xình vừa qua chung quanh hai câu chuyện đùi gà Mỹ và cá da trơn xuất vào Mỹ đã làm nổi bật những thách thức lớn từ các FTA và liên kết kinh tế mà Việt Nam đang theo đuổi.
Thời điểm đùi gà Mỹ ồ ạt đổ vào thị trường Việt Nam, với giá chỉ bằng một phần sáu giá mặt hàng này trong nước, AEC còn chưa ra đời, TPP chưa kết thúc đàm phán và EVFTA cũng chưa chính thức được ký kết. Thế nhưng, sức ép cạnh tranh từ hàng hóa nước ngoài đã không chỉ còn là cảnh báo hay lo ngại nữa. Năng lực cạnh tranh yếu kém của doanh nghiệp trong nước thể hiện rõ ở cả quy mô nhỏ bé về vốn, thiết bị lạc hậu, công nghệ đi sau hàng chục năm so ngay các nước trong khu vực Đông - Nam Á, chứ chưa nói đến các nền kinh tế phát triển. Ấy là chưa kể các yếu tố như đội ngũ lao động chủ yếu chưa qua đào tạo, năng lực quản trị doanh nghiệp và tư duy kinh doanh, tầm nhìn dài hạn còn yếu và thiếu.
Câu chuyện cá tra, cá ba sa Việt Nam vướng các vụ kiện về bán phá giá vào thị trường Mỹ phản ánh rõ xu hướng của các FTA, đó là dỡ bỏ hoặc giảm bớt thuế quan, nhưng lại tăng hàng rào phi thuế quan để bảo vệ sản xuất trong nước. Các FTA Việt Nam vừa ký kết đều đòi hỏi cao về tiêu chuẩn kỹ thuật (TBS), vệ sinh dịch tễ (PSP) hay phòng vệ thương mại (TR). Đây thật sự là điểm bất lợi đối với hàng hóa Việt Nam khi tham gia chuỗi thương mại toàn cầu, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao ý thức của doanh nghiệp và người sản xuất, trách nhiệm giám sát của các nhà quản lý.
Đáng chú ý, FTA thế hệ mới còn đặt ra yêu cầu cao về thể chế và môi trường kinh doanh, đòi hỏi Việt Nam nhanh chóng đưa các quy định pháp luật, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, chất lượng, môi trường… gần hơn luật pháp và thông lệ quốc tế…
Kinh nghiệm hội nhập quốc tế nhiều năm qua, nhất là từ sau khi gia nhập WTO (năm 2007), sẽ là cơ sở để Việt Nam tiếp tục khai thác hiệu quả lợi thế và hạn chế tác động tiêu cực khi tham gia các sân chơi lớn. Ít nhất, tham gia các FTA thế hệ mới, Việt Nam không ở thế bị động phải tuân theo các quy định, tiêu chuẩn định sẵn, thay vào đó đóng vai trò chủ động xây dựng các tiêu chuẩn và quy định mới. Và đó là lợi thế mới của Việt Nam.