Theo ông Phạm Xuân Hòe, Phó Viện trưởng Chiến lược ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), kết quả khảo sát nghiên cứu thực tế về định giá (lãi suất) CVTD, cũng như phương pháp tính thu lãi và tỷ trọng CVTD tại các công ty tài chính tiêu dùng (CTTCTD) cho thấy, có nhiều điểm khác nhau giữa các CTTCTD với các ngân hàng thương mại (NHTM). Định giá (lãi suất) đối với khoản CVTD có khá nhiều phương pháp, chủ yếu do trụ sở chính tính toán và có cơ chế điều hành về lãi suất theo nét riêng về quản trị của từng tổ chức tín dụng (TCTD).
Tuy nhiên, tựu trung lại, việc xác định giá cả khoản CVTD đều thống nhất những nguyên tắc căn bản: bù đắp được chi phí vốn đầu vào; bù đắp chi phí hoạt động về lương; bảo đảm phần chi phí bù rủi ro tín dụng (vỡ nợ); chi phí bù đắp phần rủi ro thanh khoản do đáo hạn nhiều kỳ hạn nguồn vốn để bù đắp khoản cho vay dài hay chi phí trả trước hạn…
TT CVTD của Việt Nam đang phát triển khá nhanh, với dự báo sẽ duy trì đà tăng trưởng “hai con số” trong thời gian tới. Để hỗ trợ cho tiềm năng phát triển của TT, cơ quan quản lý nhà nước, cùng các TCTD phải sớm nhận diện và xử lý những vấn đề còn vướng mắc, giải tỏa nỗi băn khoăn của NTD về câu chuyện lãi suất.
Ông Phạm Xuân Hòe cho biết, xét về phương pháp định giá CVTD, khảo sát cho thấy các CTTCTD đã quan tâm khá đầy đủ đến các yếu tố hình thành lãi suất cho vay.
Cụ thể, các CTTC có thống kê phân loại khách hàng rất chi tiết theo mức độ thu nhập, ngành nghề làm việc, vùng miền sinh sống, từ đó đánh giá đo lường về mặt rủi ro tín dụng đối với từng nhóm khách hàng. Phần chi phí rủi ro kỳ hạn đều đã được các CTTCTD đo lường và lượng hóa cụ thể trong chi phí lãi suất cho vay. Điều này cũng phản ánh chất lượng quản trị nói chung và quản trị rủi ro nói riêng của các CTTCTD đã được chú trọng và nâng cao rất nhiều.
Về cơ chế điều hành lãi suất CVTD, với quy mô vừa phải, các CTTCTD dễ dàng triển khai thống nhất trong toàn công ty. Lãi suất được hình thành trên cơ sở định giá chung và căn cứ đặc điểm từng khoản vay, mức độ rủi ro từng nhóm khách hàng. Điều này cho phép cán bộ bán hàng chủ động đàm phán với khách hàng.
Tần suất về điều chỉnh lãi suất của khoản CVTD của các CTTCTD được áp dụng thả nổi hoặc cố định tùy theo thỏa thuận giữa công ty với khách hàng và được ghi rõ trong điều khoản của hợp đồng tín dụng.
Bên cạnh đó, khảo sát thăm dò ý kiến của các TCTD trong việc hình thành cơ chế quản lý điều hành đối với lãi suất CVTD cho thấy: Có tới 90,05% các NHTM cho rằng, NHNN nên thả nổi lãi suất cho vay theo TT, trong khi tỷ lệ này ở các CTTCTD là 60%. Bởi các doanh nghiệp này cho rằng, lãi suất là giá cả của khoản vay và sẽ hình thành trên cơ sở cung cầu vốn của TT. Chưa kể, sự cạnh tranh quyết liệt giữa các TCTD trong lĩnh vực CVTD sẽ làm mặt bằng lãi suất không quá cao, đồng thời mang tới nhiều ích lợi cho khách hàng.
Chung quanh việc quản lý lãi suất đối với CVTD, chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực chia sẻ, Chính phủ Anh đã từng áp dụng lãi suất trần để khống chế lãi suất CVTD, nhưng điều này đã gây khó khăn cho các CTTCTD trong hoạt động kinh doanh và mở rộng cho vay. Trong khi đó, NTD ở thị trường này vẫn có nhu cầu cao dẫn đến tín dụng “đen” gia tăng.
Tại các TT như: châu Âu, Ấn Độ, Trung Quốc... lãi suất CVTD do các CTTCTD cung cấp thường cao gấp nhiều lần so lãi suất của NHTM. Tuy nhiên, CVTD tại các TT này vẫn phát triển và khách hàng hoàn toàn chấp nhận mức lãi suất trên với lý do là tiện lợi, nhanh chóng, đơn giản, nhỏ lẻ; chủ yếu cho vay tín chấp; lãi suất cao nhưng vẫn thấp hơn, ít rủi ro hơn so tín dụng “đen”.
Ở góc độ khác, Giám đốc Trung tâm tiếp thị FE Credit Đặng Thanh Hùng khẳng định, lãi suất cho vay hoàn toàn dựa trên thỏa thuận giữa CTTCTD và khách hàng trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Theo đó, bên cạnh việc hiểu các tiện ích rõ ràng từ gói CVTD, NTD cần xác định rõ tham gia vay tiêu dùng với các CTTC hoàn toàn khác với vay tại NHTM. Điều dễ nhận thấy nhất là biểu lãi suất cho vay của các CTTCTD bình quân từ 20% - 60%/ năm, cao hơn nhiều so lãi suất cho vay tại NH. Mức lãi suất này xuất phát từ các đặc thù chính của loại hình vay tín chấp.
Chuyên gia kinh tế Lê Xuân Nghĩa thì cho rằng, khách hàng nên hiểu, đương nhiên rủi ro cao sẽ song hành với lãi suất cao. Cao ở đây là so các khoản vay giá trị lớn, thời gian dài và có tài sản bảo đảm. Còn thực tế, so những rủi ro tiềm ẩn của loại hình vay tiêu dùng tín chấp, mức lãi suất này mới chỉ đủ bù cho các chi phí vận hành của CTTCTD. Mức lãi suất sẽ phụ thuộc nhiều yếu tố để cân bằng với rủi ro, tùy vào sản phẩm vay, số tiền vay, thời hạn vay và lịch sử tín dụng của từng khách hàng cụ thể. Với khách hàng có lịch sử tín dụng tốt, hồ sơ đầy đủ, rõ ràng sẽ nhận được mức lãi suất ưu đãi hơn. Đây là điều mà NTD cần phải hiểu rõ và chấp nhận mức lãi suất vay cao hơn ở các NH để tránh phát sinh các rủi ro tranh chấp, khiếu kiện khi thanh toán về sau.