Kỳ 1: Những trận đả hổ sống còn
Đến nay, môn võ này có hàng nghìn môn sinh ở trên 10 tỉnh, thành phố trong nước và cả nước ngoài. Các vị võ sư cao niên của môn phái chia sẻ những dấu ấn trên đường phát triển của môn võ cổ truyền danh tiếng này.
1/Kể về nguồn gốc Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà (TAKHADO), võ sư Hồ Văn Tường (69 tuổi) và nữ võ sư Hồ Thanh Sương (75 tuổi), chia sẻ: Chúng tôi thọ giáo võ sư Hồ Văn Lành (Từ Thiện) từ thập niên 1960, được nghe kể lại, vào khoảng thế kỷ 17, các bậc tiền nhân từ miền Thuận Quảng vào vùng Tân Khánh (nay thuộc thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) khẩn hoang lập ấp dùng võ phòng thân, chống lại thú dữ, giặc cướp. Cứ thế, đời trước truyền cho đời sau, hình thành Võ Lâm Tân Khánh.
Đến giữa thế kỷ 19, một cô gái trẻ đến mở một hàng nước, khách bước vào ấn tượng bởi một thanh kiếm treo trên quầy. Nhiều người thấy lạ liền hỏi, cô nói, khách nào vào uống nước không trả tiền thì xin hỏi qua thanh kiếm trước khi bước đi! Trước lời nói có vẻ thách thức nhiều trai tráng nổi máu tự ái. Tuy nhiên, nhiều người phải chào thua mà “vái chào” thanh kiếm.
Thấy cô gái giỏi võ, có người dò la tung tích được biết (cô gái này là gia nhân của bà Võ Thị Trà (bà Trà), hậu duệ của bộ tướng nhà Tây Sơn vào đây lánh nạn). Ban ngày là cô hàng nước nhưng khi đêm xuống là một nữ tướng với những đường kiếm tuyệt chiêu do bà Trà dạy cho. Biết bà Trà nắm giữ thông thạo môn Quyền thuật và Thập bát ban võ nghệ Bình Định, trai tráng trong vùng xin học. Về sau, sự kết hợp miếng võ của thế hệ trước cùng đòn thế do bà Trà truyền dạy đã hình thành nên Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà. Từ đây vùng Tân Khánh và chung quanh được biết đến là “cái nôi” đất võ phương Nam. Lịch sử ghi lại, từ căn cứ Truông Mây bà Trà suốt 10 năm từ 1850 đến 1859 lãnh đạo người dân nổi lên chống bọn tham quan địa phương.
2/Câu chuyện trên cho thấy lịch sử uy dũng của Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà. Và hai đệ tử chân truyền của Bà Trà là anh em ông Võ Văn Ất (Hai Ất) và Võ Văn Giá (Ba Giá) tiếp nối hào khí sẵn có của vùng đất võ lâm. Cùng việc nắm bắt võ nghệ chân truyền, hai ông còn sở trường sử dụng trường côn (còn gọi là “roi”). Người đời kể lại, trận đấu của hai ông với ba con hổ dữ vào một buổi chiều ở Hố Ngỡi, cạnh làng Tân Khánh, nay là Tân Vĩnh Hiệp, Tân Uyên.
Hai bên quần nhau trong hơn hai tiếng đồng hồ chưa dứt. Ông Ất vừa tránh con bên trái thì con bên phải phóng vào, móng vuốt thú dữ chụp thẳng sẵn sàng xé đối thủ thành trăm mảnh. Thấy ông Ất té xuống, mọi người cùng la lên và thủ sẵn cung tên định bắn giải cứu, bất ngờ có tiếng thét: “Đừng bắn có tôi đây!”. Đó là tiếng ông Giá, sợ họ bắn tên trúng ông Ất mà ông biết anh mình dùng thế “Phục địa lang hành” ngã xuống để xoay mình đá tung lên. Hổ từ trên nhào xuống tưởng chụp được đối thủ, bất ngờ lãnh trọn cú đá. Lẹ làng, ông Ất phóng lên lưng hổ, vung tay đập xuống liên hồi. Trong lúc ông Ất giáng những nắm đấm thôi sơn vào gáy con hổ này thì hai con kia nhảy bổ vào. Ông Ất định buông hổ đang ghìm giữ nhưng vừa nới tay nó suýt hất ông ngã ngửa. Ông lấy hết sức đấm xuống gáy thêm mấy cái.
Ông Ất vừa đè cổ hổ xuống, gắng sức bẻ lọi cổ nó thì nghe tiếng ông Giá: “Ngồi yên đó. Có tôi tiếp đây”. Ông Giá dùng thế “giải giáp” cởi phăng chiếc áo ném vào con gần nhất. Thấy chiếc áo bay tới, hổ ngỡ có người trợ chiến, liền chụp xé tan nát. Ông liền vung roi phóng thẳng vào đầu hổ sắp chụp lên đầu ông Ất, nó không kịp kêu một tiếng, té lộn về phía sau, óc văng ra, chết ngắc! Tiếp theo, ông Giá quất roi vào lưng con hổ vồ chiếc áo. Trúng roi, định tẩu thoát nhưng bị tiếp một roi ngang lưng, con hổ nằm không cựa quậy. Thấy em giết được hai con hổ, ông Ất nhìn xuống thấy con hổ bị bẻ cổ nằm chết tự bao giờ. Từ đây, danh tiếng của hai ông vang khắp vùng.
Đến khi, xứ Bàu Lòng (nay là khu phố Bàu Lòng, thị trấn Lai Uyên, huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương) hổ dữ về làng bắt bò, heo... khiến người dân sợ hãi. Hay chuyện, cai tổng liền cử người đi mời hai ông Ất, Giá về trị. Về Bàu Lòng ba ngày không thấy hổ về làng, hai ông tỏ ra sốt ruột. Sang ngày thứ tư, cơm trưa vừa xong, hai ông nghe tiếng la thất thanh của lũ trẻ liền bước ra xem thì đúng lúc hổ dữ xuất hiện. Trong lúc mọi người khiếp vía thì ông Giá cắp roi nhảy ra sân thủ thế. Ông Ất tay chống nạnh, đứng nhìn nơi ngạch cửa. Ở ngoài sân, hổ thấy người liền gầm lên rồi phóng tới chụp. Ông Giá né nhanh, liền đó vung roi đâm trúng vào hông hổ khá mạnh. Hổ gầm lên rồi quay lại chụp liền.
Ông Giá lại vung roi, lúc đập, lúc đâm. Hổ nhảy tới, nhảy lui gầm thét. Người chứng kiến trăm phần sợ hãi. Cuộc giao tranh độ tàn điếu thuốc, bất ngờ hổ vọt ra ngoài, nằm ngửa chỏng vó lên trời, đó là miếng “trâu vằn”, miếng tổ của hổ. Ai không biết sẽ mất mạng dưới móng vuốt của nó. Hồi lâu, hổ không thấy ông Giá xông vào phá miếng “trâu vằn”, gầm lên phóng lại vào vòng chiến. Ông Giá vung roi đánh tiếp. Hai bên “tung đòn” quyết liệt khiến cát bụi mù mịt không phân biệt được đâu là người, đâu là thú. Lát sau hổ giở lại miếng cũ. Ông Giá lại chống roi đứng chờ. Hổ lại xoay mình phóng vào vòng chiến. Ông Giá ra đòn rất hiểm. Ít phút sau hổ rống thật to, nhảy ra khỏi vòng bỏ chạy. Tiếp theo, một tiếng rống to hơn, dài hơn, nhìn lại thấy ông Ất đứng bên xác hổ. Mọi người đứng xem không ai thấy ông Ất ra tay. Nhưng ông Ất đoán được đường rút, liền lao ra chặn đầu, dưới ngọn roi ngàn cân của ông, hổ hết đường thoát! Từ đó, người đời truyền tai nhau câu tục ngữ “Cọp Bàu Lòng, Võ Tòng Tân Khánh”.
Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà nổi tiếng môn võ đả hổ vang danh thiên hạ. Chưởng môn đời thứ bảy, võ sư Hồ Văn Tường cho biết, ông là hậu duệ duy nhất còn lại biết các thế võ đánh hổ. Ông nói, võ đánh hổ có 10 thế riêng, mỗi thế có 10 biến thế và chưa nghe nói có hổ dữ nào thoát được 10 thế võ này. 10 thế này được đặt thành bài thơ lục bát như sau: “thứ nhất hoành đả hỏa xa/thứ hai phù phóng, thứ ba roi hoành/thứ tư phục hổ tan tành/thứ năm xà địa giữ mình cho xinh/thứ sáu là roi đâm lèo/thứ bảy hồi mã đừng theo mà lầm/thứ tám phục hổ đạt trùng/thứ chín bát tự, thứ mười đâm đôi”. Điều này thể hiện trên huy hiệu (logo) của Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà, một võ sư cưỡi lên lưng tung nắm đấm thôi sơn hạ gục mãnh chúa sơn lâm. Cho thấy khả năng thực chiến chống lại hổ dữ của môn phái.
3/Tra cứu thêm tư liệu, người đời sau đọc thấy trong báo Vũ Thuật (bộ mới số 2) ra ngày 1/2/1953 tại Chợ Lớn, trên các trang 12, 13 và 24 đăng bài “Quyền sư ở Nam Việt: Ông Ất” ghi lại câu chuyện sau. Đó là vào năm 1914, nhân lễ khai thị chợ Bến Thành tổ chức trận đấu giữa người và chúa sơn lâm. Ông Ất là võ sư danh tiếng giao cho con gái là Võ Thị Vuông (Năm Vuông) khi đó ngoài 20 tuổi đương đầu với hổ dữ trên sân đấu. Tuy biết cực kỳ nguy hiểm, nhưng ông tin vào tài năng võ nghệ của con đủ sức hạ hổ dữ. Cô gái trẻ Năm Vuông bước ra giữa sân đấu ung dung vái chào người dự khán không hề tỏ ra mảy may lo sợ; vì cô được người cha cũng là sư phụ dặn rằng không nên “tốc chiến, tốc thắng” mà đánh dai dẳng, nhằm phá sức hổ để vừa hạ được mãnh thú vừa bảo toàn tính mạng. Cuộc thư hùng diễn ra từ sáng sớm đến giờ ngọ mới kết thúc.
Hổ là loài thú tinh khôn, gầm thét vang trời nhằm “cướp tinh thần” đối thủ khiến người dự khán phải khiếp vía. Năm Vuông không phải nhi nữ thường tình, bình tĩnh thủ thế, sắc mặt không thay đổi vẫn lạnh như không. Ban đầu, hổ xoay trở nhanh, đưa vuốt chụp vồ liên hồi, nhưng Năm Vuông nhanh hơn. Khi thọc ngược đao, lúc trái, lúc phải… thân pháp biến chuyển nhịp nhàng. Cả thú dữ và người đều tìm những “kẽ hở” của nhau để triệt hạ. Hổ hết phóng, chụp, vồ “con mồi” nhưng đều trượt và lãnh những ngọn đao hiểm. Người và thú máu me nhuộm đỏ. Khi ánh mặt trời đứng bóng, hổ ra máu nhiều, kiệt sức, xoay trở chậm chạp. Kết thúc cuộc đấu, cô gái Năm Vuông cho hổ nhận một ngọn đao chí mạng. Ngày nay, gần phường Tân Phước Khánh vẫn còn một địa danh mang tên của người con gái đả hổ này: Truông Bà Năm Vuông (truông là khu rừng hẻo lánh) vì nơi đây với một cây đòn gánh cô Năm Vuông đã đánh tan một nhóm cướp cạn toan cướp hàng hóa của cô!
Theo võ sư Hồ Văn Tường, Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà được các thế hệ võ sư, môn sinh tích cực trau dồi luyện tập nhằm đem đến những thế võ mới cùng sự vận dụng sáng tạo cho ngành võ thuật nước nhà. Những câu chuyện này xin kể ở phần sau.
(Còn nữa)