Và ngồi yên lặng cả buổi. Lần đó gặp nhà văn Đoàn Lê, chị hay gọi tôi là cậu “Cậu Hằng”. Tôi cũng thích chị gọi tôi là cậu Hằng như cách gọi của người chị đối với một người em trai: “Cậu thích biển hay là ra đây sống đi, tớ còn đám đất ven cổng đủ 50 m, để cho cậu. Ưng thì duyệt”. Tôi lắc đầu, vì ngại xa con.
Nhưng lần sau ra chơi với biển, chị Đoàn Lê vừa đi cấp cứu về, chị ngộ ra lẽ khác:
- Tớ ốm dậy mới thấy mình thật sai lầm.
- Sai lầm gì cơ? Tôi nhắc.
- Là sau khi về đây sống một mình, tớ đã nếm đủ bạc bẽo của đất liền, lại cày thật lực ở bên bờ biển, bên xóm chùa này. Xắn tay nào biên kịch, làm phim, vẽ vời, xây hai cái nhà to, một nhà để ở, một nhà để vẽ. Cuối cùng thì… vật chất chả để làm gì. Con thì nó không về đây sống rồi, mình ốm phải lên Hà Nội với cháu Lụa (con gái chị Lê). Thế là hai ngôi nhà thừa ra, chả biết để làm gì. Mới thấy mình cũng như con dã tràng, xây nhà. Thì ra vẽ vời, viết tiểu thuyết, truyện ngắn, làm thơ lại còn. Viết, tác phẩm còn đứng lại. Cậu đừng nên bỏ viết. Nếu giời còn cho viết.
Tôi đã thấy chị Đoàn Lê từng trải mà đoạn kết mới ngộ ra về ngôi nhà và sự gắng gỏi kiếm tiền để xây hai ngôi nhà. Chị tâm sự có lần mê viết quá, bỏ cả ăn uống, cho nên nó mới xuống sức nhanh.
Nhìn sóng tôi lại nghĩ đến nhà văn Lê Minh Khuê, những năm vừa hòa bình, chị sống tạm trong căn phòng hẹp cùng với một chị công tác ở hội phụ nữ, ở con ngõ nhỏ Hà Nội. Không có bàn viết, chị Minh Khuê toàn viết trên đầu gối, hai đầu gối chụm lại và viết trên tập giấy đen. Rất nhiều năm sau, nhà văn Lê Minh Khuê vẫn viết trên đầu gối và viết bằng bút bi, bút mực. Chị không dùng vi tính, điện thoại, không internet. Tôi hay đùa rằng: “Chị không sống hiện đại, không công nghệ 4.0 chắc sống thọ lắm”, đáp: “Ui xời, sống lâu mà làm gì, nếu không viết?”. Khát vọng viết vẫn là đắm đuối nhất của nhà văn, dù sống bằng nhuận bút còm cõi, nhà văn chẳng sung sướng gì? Ấy vậy mà khổ mấy cũng viết, cắm đầu mà viết.
Tôi còn nhớ y nguyên lần cuối cùng nhà văn Triệu Bôn đến thăm nhà văn Nguyễn Minh Châu ở Bệnh viện Quân y 108, anh Châu nói với anh Bôn: “Bảo Hằng, vợ cậu để ý bà Doanh, nhớ đánh tiếng cho tớ hút xong điếu thuốc”. Tôi đứng trông chừng chị Doanh (vợ anh Châu) cho hai anh nói chuyện và anh Triệu Bôn châm điếu thuốc cho anh Châu hút thuốc lá, bao Tam Thanh. May sao hút xong điếu thuốc thì vợ anh mới đến. Tôi chào chị rõ to, đánh tiếng cốt để anh Châu biết ý mà dụi tàn thuốc đi. Rồi anh Châu uống nước như không hề có chuyện gì xảy ra. Lúc ra về tôi hỏi chồng mình:
Anh Châu và anh nói chuyện gì thế?
Chuyện viết thôi, vẫn biết hạn sống của mình mà anh Châu bình thản lắm, anh còn dặn anh.
Dặn gì, kể em nghe.
Anh Châu bảo: Cậu đừng có làm động tác thừa, dành thời gian mà viết. Không còn mấy người viết về chiến tranh nữa. Nghe anh Châu dặn, anh muốn khóc quá, mà chỉ dám ôm lấy anh Châu, nói: “Em nhớ rồi!”.
Ai bảo nghề viết bạc như vôi? Nghề viết cũng cứu rỗi tâm hồn đang đuối và cưu mang bao phận người đơn lẻ, không may mắn. Chữ viết kịp vỗ về họ. Và phận người hồi sinh. Nghề viết luôn gia hạn sống cho mỗi nhà văn. Tác phẩm của họ nói lên điều đó.