Kỳ 1: Thách thức từ hội nhập
Từ lẩn tránh các biện pháp phòng vệ…
Trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào các FTA, đặc biệt là các FTA thế hệ mới, các vụ việc PVTM gồm CBPG, chống trợ cấp, tự vệ đối với hàng xuất khẩu (XK) của Việt Nam sẽ ngày càng nhiều hơn với tính chất phức tạp gia tăng. Ở chiều ngược lại, một số ngành sản xuất trong nước cũng phải chịu áp lực từ việc gia tăng nhập khẩu (NK) do các tác động mở cửa thị trường và cần đến những công cụ chính sách về PVTM để bảo vệ lợi ích của ngành. Bên cạnh đó, sự mất cân đối cán cân thương mại toàn cầu không được cải thiện, làm gia tăng mâu thuẫn về thương mại, cạnh tranh chiến lược giữa các nước. Tranh chấp thương mại Mỹ - Trung Quốc từ năm 2018 đến nay vẫn chưa giảm bớt căng thẳng, đồng thời những biện pháp hạn chế thương mại mà hai bên áp dụng lẫn nhau gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới toàn thế giới.
Mới đây, tại Hội thảo “PVTM trong bối cảnh tham gia các FTA: Cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp Việt Nam”, Thứ trưởng Công thương Trần Quốc Khánh thẳng thắn nêu rõ, các biện pháp PVTM là một thực tế phổ biến trên thế giới trong bối cảnh tự do hóa thương mại, mà chúng ta, đặc biệt là các doanh nghiệp (DN), sớm hay muộn cũng sẽ phải đối diện. Thực hiện cam kết theo các FTA, Việt Nam đã mở cửa thị trường và cắt giảm thuế NK đối với nhiều mặt hàng từ các đối tác thương mại quan trọng. Điều này đặt các DN, ngành hàng Việt Nam trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của hàng hóa NK, đặc biệt là từ các nước trong khu vực. Các biện pháp PVTM được sử dụng ngày càng phổ biến do đây là các công cụ chính sách phù hợp để bảo vệ lợi ích của các ngành sản xuất trong nước được WTO cho phép.
Đối với Việt Nam, các vụ việc nước ngoài khởi xướng điều tra lẩn tránh thuế đối với hàng hóa XK thường thuộc các trường hợp: Hàng hóa của nước đang bị áp dụng biện pháp PVTM chuyển tải sang Việt Nam để lấy xuất xứ Việt Nam nhằm lẩn tránh thuế PVTM; hàng hóa của nước ngoài lấy xuất xứ Việt Nam để hưởng thuế suất ưu đãi theo các FTA hoặc các quy định ưu đãi thuế quan.
Trong giai đoạn 2000 - 2016, đã có 15 vụ việc điều tra lẩn tránh thuế PVTM với hàng hóa XK của Việt Nam, trung bình một vụ/năm. Tuy nhiên, từ năm 2017 đến quý I - 2020, đã có thêm bảy vụ việc mới được khởi xướng điều tra, trung bình mỗi năm có hai vụ việc được tiến hành khởi xướng điều tra. Dự kiến xu hướng này sẽ gia tăng khi tại Việt Nam đã có những dấu hiệu về dịch chuyển đầu tư cũng như phạm vi, số lượng sản phẩm bị áp dụng biện pháp PVTM đang gia tăng. Trong số 22 vụ việc bị nước ngoài điều tra chống lẩn tránh thuế, gian lận xuất xứ, sản phẩm thép bị khởi kiện nhiều nhất với sáu vụ, chiếm tỷ lệ 30%. Thép là một trong những sản phẩm XK có nhiều chủng loại với kim ngạch hằng năm khoảng 4,2 tỷ USD (năm 2019). Riêng kim ngạch XK sang thị trường Mỹ khoảng 300 triệu USD, chiếm tỷ lệ 7,4% trong tổng XK thép của Việt Nam. Phần lớn các vụ việc điều tra lẩn tránh thuế với sản phẩm thép đều do phía Mỹ tiến hành, trong đó riêng với sản phẩm thép chống ăn mòn (CORE) và thép cán nguội (CRS), Mỹ đã điều tra tổng cộng 5 vụ việc.
Trong tất cả các vụ việc nói trên, Mỹ đều kết luận thép CORE và CRS của Việt Nam được sản xuất từ nguyên liệu NK từ các nước/vùng lãnh thổ là lẩn tránh các biện pháp PVTM mà Mỹ đang áp dụng do mức độ đầu tư; chuyển đổi trong quá trình sản xuất sản phẩm thép này tại Việt Nam là không đáng kể. Do vậy, Mỹ áp dụng mức thuế chống lẩn tránh tương đương mức thuế đang áp dụng cho hàng hóa của Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) XK vào Mỹ.
Tuy nhiên, theo Cục PVTM, Bộ Công thương, quan điểm của Mỹ, mục tiêu áp thuế chống lẩn tránh không phải là thép của Việt Nam mà để bảo đảm hiệu lực thực thi các biện pháp PVTM đang áp dụng. Sản phẩm thép được sản xuất từ nguyên liệu của Việt Nam hoặc nguyên liệu NK từ các nguồn khác sẽ được phép sử dụng cơ chế khai báo để hưởng miễn trừ áp dụng biện pháp chống lẩn tránh thuế. Do đó, trên thực tế, kết luận của các vụ việc chống lẩn tránh không tác động đáng kể đến tình hình XK của Việt Nam nếu chúng ta phát triển được các ngành sản xuất nguyên liệu đầu vào.
… Đến gia tăng số vụ việc phòng vệ thương mại
Trên thế giới, xu thế gia tăng điều tra, áp dụng các biện pháp bảo hộ thương mại chưa có dấu hiệu giảm. Đơn cử, ngày 23-11, Bộ Thương mại Mỹ (DOC) chính thức thông báo khởi xướng điều tra CBPG đối với sản phẩm sợi dún polyester (polyester textured yarn - PTY) NK từ Malaysia, Indonesia, Thái-lan và Việt Nam. Nguyên đơn cáo buộc sản phẩm PTY được bán phá giá vào thị trường Mỹ, gây thiệt hại đáng kể đối với nhà sản xuất sở tại. Được biết, tổng kim ngạch XK PTY của Việt Nam sang Mỹ trong ba năm từ 2017 - 2019 lần lượt là 490.000 USD, 778.000 USD và 4,5 triệu USD. NK từ Việt Nam chiếm khoảng 8,7% tổng lượng NK của Mỹ trong giai đoạn từ tháng 9-2019 đến tháng 8-2020.
Có thể thấy, trong bối cảnh dịch Covid-19 tác động tiêu cực tới kinh tế toàn cầu, mâu thuẫn thương mại giữa nhiều nền kinh tế tiếp tục diễn biến phức tạp thì xu thế sử dụng các biện pháp hạn chế thương mại để bảo hộ sản xuất trên thế giới tiếp tục gia tăng. Tính đến thời điểm hiện tại, Bộ Công thương đã tiếp nhận và xử lý gần 200 vụ việc PVTM nước ngoài áp dụng đối với hàng hóa XK của Việt Nam, gồm cả các mặt hàng XK quan trọng như: thủy sản, sắt thép, nhôm, gỗ...
Trong ba quý đầu năm 2020, tổng số lượng các vụ việc khởi xướng điều tra PVTM là 30, tăng gần gấp ba lần so cùng kỳ năm 2019 (10 vụ). Các quốc gia điều tra áp dụng các biện pháp PVTM với hàng hóa XK của Việt Nam nhiều nhất bao gồm Mỹ với 39 vụ việc, Ấn Độ 26 vụ việc, Thổ Nhĩ Kỳ 23 vụ việc, Canada và Australia cùng 16 vụ việc. Đặc biệt, gần đây các nước ASEAN cũng rất tích cực điều tra PVTM với 38 vụ việc (chiếm tỷ lệ 20%).
Nhằm ứng phó các vụ kiện PVTM, bảo vệ bảo hộ lợi ích hợp pháp của DN Việt Nam khi XK tại nước ngoài, thời gian qua Bộ Công thương đã chủ động phối hợp các bộ, ngành liên quan và các địa phương cung cấp thông tin chính thức để trả lời cơ quan điều tra nước ngoài theo yêu cầu; đề nghị cơ quan điều tra nước ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho DN Việt Nam có thể tham gia vụ việc nhằm bảo vệ quyền lợi của mình; theo dõi, giám sát quá trình điều tra để kịp thời có ý kiến khi cơ quan điều tra nước ngoài có dấu hiệu vi phạm quy định của WTO; khiếu nại biện pháp của nước ngoài tới Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO nếu có dấu hiệu vi phạm các quy định của WTO.
Theo ông Trần Quốc Khánh, nhờ sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Công thương và các cơ quan Chính phủ liên quan, cũng như với các hiệp hội và DN, Việt Nam đã thu được những kết quả tích cực trong quá trình kháng kiện khi thành công 65/151 vụ việc, chiếm tỷ lệ 43%, cao hơn nhiều so mức bình quân trên thế giới. Đối với điều tra chống trợ cấp, Việt Nam đã xử lý thành công các cáo buộc liên quan chính sách ưu đãi của Chính phủ, dẫn đến việc trong nhiều vụ việc, cơ quan điều tra kết luận thuế suất chống trợ cấp ở mức trợ cấp không đáng kể. Nhờ đó, trong 5 vụ Việt Nam tiến hành khiếu nại tại Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, có ba vụ đã kết thúc với kết quả tích cực; hai vụ vẫn đang trong giai đoạn xét xử tại WTO. Bên cạnh các vụ việc điều tra mới khởi xướng, Bộ Công thương luôn theo dõi, hỗ trợ DN xử lý các vụ việc, rà soát biện pháp với mục tiêu giảm thấp nhất tác động tiêu cực tới DN XK của Việt Nam. Với tinh thần hỗ trợ cao nhất cho DN XK để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng trong thương mại quốc tế, Bộ Công thương luôn đồng hành và có những phương án xử lý kịp thời nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN.
(Còn nữa)