Hơn 60% nhân lực trong nông nghiệp, y tế, giáo dục là phụ nữ. Trong nghiên cứu khoa học, ngày càng nhiều giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ là nữ, đặc biệt trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn, văn hóa, nghệ thuật. Trong lĩnh vực nào khi phát huy được tính tự chủ, phụ nữ cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với chất lượng cao, không thua kém nam giới.
Khẳng định năng lực
Phụ nữ vẫn luôn được gọi là phái yếu. Theo lô-gic thông thường, đã là phái yếuthì phải được che chở, phải phụ thuộc và thường không có vai trò lớn trong các công việc chung của xã hội. Quan niệm này từ lâu đã hằn in trong tâm thức con người, nhất là trong xã hội phương Đông vốn đề cao phái mạnh- đàn ông. Tuy nhiên, phụ nữ Việt Nam đang ngày càng tự chủ hơn trong sản xuất và kinh doanh, trong công việc gia đình và trong các mối quan hệ.
Luật pháp đã khẳng định và bảo vệ quyền tự chủ của phụ nữ, tạo cơ hội cho phụ nữ phát triển bình đẳng với nam giới và nghiêm cấm các hành vi cản trở phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội. Phụ nữ đã có mặt trong hầu hết các lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực trước đây chỉ dành cho nam giới như lái tàu, lái máy bay, lái ta-xi, xây dựng, bóng đá, cử tạ, thể hình, nghiên cứu khoa học, tham gia bộ máy lãnh đạo.
Phụ nữ cũng ngày càng đóng vai trò chủ động trong sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, buôn bán, dịch vụ. Tỷ lệ nữ trong hội đồng quản trị tại các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là 30% trong khi tỷ lệ trung bình toàn cầu là 19%. Hơn 60% nhân lực trong nông nghiệp, y tế, giáo dục là phụ nữ. Trong nghiên cứu khoa học, ngày càng nhiều giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ là nữ, đặc biệt trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn, văn hóa, nghệ thuật. Trong lĩnh vực nào khi phát huy được tính tự chủ, phụ nữ cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ với chất lượng cao, không thua kém nam giới.
Thực tế đã chứng minh, nếu người phụ nữ tự chủ hơn, gia đình và xã hội sẽ tốt đẹp hơn. Trước những vấn đề quan trọng của gia đình, nếu được bàn bạc rồi "thuận vợ, thuận chồng" cùng quyết thì hiệu quả công việc sẽ tốt hơn nhiều. Trong các gia đình thuận hòa như vậy, kinh tế sẽ phát triển vững vàng và cuộc sống của các thành viên sẽ hài hòa, hạnh phúc. Tương tự, ở các cơ quan và các tổ chức, nếu người cấp dưới hoặc người dân trong đó có phụ nữ được bàn bạc, họ sẽ đóng góp bằng các tư tưởng chủ động và sáng kiến thì kết quả sẽ tốt đẹp hơn nhiều. Nếu xã hội không sử dụng năng lực và kinh nghiệm của phụ nữ thì có nghĩa là chúng ta không chỉ tước mất quyền tự chủ của họ mà còn làm lãng phí một nguồn chất xám vô cùng quý giá.
Trao quyền và tự trao quyền
Nhưng cũng không có sự tự chủ chung chung mà tự chủ phải trên nền tảng kiến thức nhất định. Nếu không có kiến thức thì sự tự chủ sẽ chỉ mang tính bản năng và nó có thể gây hại. Chẳng hạn, phụ nữ có thể tự chủ trong hôn nhân nhưng nếu không đủ kiến thức và kinh nghiệm thì có thể trở thành nạn nhân của các vụ lừa đảo. Cũng như vậy, phụ nữ tự chủ trong sản xuất và kinh doanh nhưng nếu thiếu kiến thức thì có thể thất bại, v.v. Vì vậy để có thể tự chủ, phụ nữ cần có sự hỗ trợ của những người chung quanh, cần được học tập kiến thức trong các lớp học hoặc sách báo, ti-vi. Bằng cách đó, phụ nữ có thể hoàn thiện quyền tự chủ của bản thân mình và đóng góp cho xã hội.
Vẫn còn nhiều rào cản đối với năng lực tự chủ của người phụ nữ. Trong các cuộc điều tra xã hội học từ nhiều năm trở lại đây, chúng tôi thấy phụ nữ đã có quyền ra quyết định trong nhiều công việc nhưng người ra quyết định cao nhất và cuối cùng trong những việc quan trọng hầu như vẫn thuộc về đàn ông. Việc đo lường này cho thấy phụ nữ vẫn chưa có quyền tự chủ thật sự và toàn diện.
Bởi vậy, tỷ lệ phụ nữ trong lãnh đạo còn thấp: số đại biểu Quốc hội chỉ có gần 26% là nữ, đứng đầu các ủy ban của Quốc hội chỉ có 1/9 người là nữ, chỉ có 2/16 nữ Ủy viên Bộ Chính trị. Về phía chính quyền, tỷ lệ nữ lãnh đạo cấp bộ là 3%, cấp sở là 5%, cấp phòng là 11%. Các con số trên còn rất khiêm tốn so với tỷ lệ hơn 50% phụ nữ trong dân số, 47% trong lực lượng lao động và năng lực thật sự của họ.
Những người phụ nữ tự chủ luôn tuân thủ mục đích cơ bản là đem lại lợi ích cho gia đình, xã hội và bản thân mình. Theo ý nghĩa đó tự chủ không mâu thuẫn với các nguyên tắc làm việc, nguyên tắc phân cấp trong quản lý, cơ cấu gia đình. Nhưng với quan niệm và những thành kiến đã tồn tại lâu đời trong xã hội, người phụ nữ muốn tự chủ phải gánh trên vai nhiều trách nhiệm hơn, đó là phải chu tất mọi công việc gia đình với trách nhiệm làm vợ, làm mẹ mà thiếu sự chia sẻ công việc từ người đàn ông và hoàn thành các công việc xã hội.
Đã có nhiều chính sách, quy định luật pháp tạo hành lang pháp lý để người phụ nữ tự chủ hơn, đóng góp nhiều hơn cho xã hội nhưng để thực thi quyền tự chủ, ngoài chính sách của Nhà nước, những người phụ nữ rất cần sự giúp đỡ, chia sẻ của những người thân trong gia đình, đồng nghiệp và điều quan trọng nhất vẫn là nghị lực của chính bản thân. Nói cách khác là xã hội và Nhà nước trao quyền tự chủ cho phụ nữ và bản thân họ cũng phải tự trao quyền cho mình. Đó là ý chí vươn lên, trau dồi học thức và khả năng tổ chức công việc để vừa hoàn thành thiên chức làm vợ, làm mẹ vừa hoàn thành công việc xã hội giao phó.
Xã hội và Nhà nước trao quyền tự chủ cho phụ nữ, song điều quyết định là bản thân người phụ nữ cần biết tự trao quyền cho mình. Nói cách khác, quyền tự chủ thật sự luôn phụ thuộc năng lực, trách nhiệm, bản lĩnh và ý chí vươn lên...