Từ bát phở ở Cairo

Cairo (Ai Cập) mùa này lúc nào cũng nóng. Thế nhưng khi bước vào nhà hàng Phở Việt, không khí như dịu lại. Mùi nước dùng phở thoang thoảng, tiếng người phụ nữ miền tây nhẹ nhàng: “Chị ăn bò tái hay chín? Hôm nay có cả bánh cuốn đấy”.

Bức tranh mang đậm bản sắc Việt tại nhà hàng.
Bức tranh mang đậm bản sắc Việt tại nhà hàng.

Bát phở giữa sa mạc

Bảng hiệu của nhà hàng đơn giản, đầy đủ dấu Tiếng Việt: Phở Việt. Phở ở nhà hàng là kiểu phở miền nam, có đủ bò viên, bò tái chín. Định lượng cho một bát phở dễ phải bằng 3 lần bát phở bình thường ở Việt Nam. Đi kèm là cốc trà đá như mọi quán phở Việt. Chủ quán là Nguyễn Thị Vạn Ý, một cô gái Đồng Tháp lấy chồng Ai Cập. Bà Nguyễn Thị Chính, mẹ của Ý xởi lởi chạy ra chạy vào, hỏi mọi người có uống cà-phê không. Cà-phê sữa đá Việt Nam, do bà mang từ Việt Nam sang.

Nhà hàng mới mở từ năm 2022. Nói về quãng đời dẫn dắt mình tới quán phở giữa sa mạc, mắt cô lấp lánh: “Chị có tin tiếng sét ái tình không? Em với chồng em là như vậy đó”. Gần 10 năm trước, Ý chia tay mối tình 5 năm. Giữa cái lúc bất ổn ấy, cô gặp chồng mình bây giờ ở sân bay Tân Sơn Nhất. “Anh ấy là phi công, vừa đi bay về, gặp em liền mời em đi cà-phê. Mà anh ấy nói chuyện có mấy tiếng đã hỏi em có muốn cưới không. Em nghĩ ông này chắc... lừa đảo”, cô cười. Nhưng người đàn ông ấy chân thành, theo cô về tận Đồng Tháp, lần lượt chinh phục hết cả gia đình cô. Ý lấy chồng, theo đạo Hồi giáo và theo anh về Cairo sau khi anh nghỉ việc ở Việt Nam. Cứ như vậy cô ở Ai Cập một mạch gần 10 năm. Năm 2022, cô đưa mẹ - bà Nguyễn Thị Chính - sang Cairo thăm con cháu, cũng để tiện chăm sóc. Không ngờ, đó lại là khởi đầu cho một hành trình mới. “Ban đầu chỉ nghĩ mẹ sang chơi rồi về. Ai ngờ ở lâu luôn. Hai mẹ con bàn nhau mở quán, cho có việc làm, đỡ buồn. Mẹ em hồi ở quê từng mở quán lẩu, biết nhiều món Việt ngon lắm”.

Món Việt, thứ đầu tiên chính là phở. Từ một căn bếp nhỏ, hai mẹ con thử làm bánh phở. Chẳng cái gì là có sẵn ở đây. Toàn bộ nguyên liệu phải nhập từ Việt Nam. “Mày mò cả tháng mới ra được sợi bánh đạt tiêu chuẩn, cũng làm hỏng không biết bao nhiêu lần”, bà Chính kể. Xong bánh phở, bà Chính còn học làm cả bánh cuốn. Thi thoảng bà lại nghĩ ra một món nào thật Việt, thật mới.

Khách tới dần quen. Có người lần đầu ghé thử rồi quay lại, có người là du học sinh Việt nhớ nhà, có cả bạn bè của gia đình. “Chồng em mê đồ ăn Việt lắm! Mỗi lần em nấu là ông ấy khoái chí, cứ nói vợ Việt là tuyệt nhất. Phụ nữ Việt chịu khó, biết lo cho chồng con, còn biết nấu ăn ngon!”, Ý kể vậy. Ở Cairo cũng có vài nhà hàng đồ Việt, nhưng Ý nói nhà hàng cô sống khỏe. Ngay cả chồng cô rảnh rỗi vẫn ghé qua nhà hàng, ăn món Việt, xuýt xoa khen ngon. Đó là món signature (đặc trưng) của quán, cũng thành tên của quán luôn.

Ngoài phở, nhà hàng có cả những món đời thường như gà rang, gà kho, vịt sốt cam, cá hấp gừng... Giữa các câu chuyện, bà Nguyễn Thị Chính còn hào hứng: “Món bò xào cô làm ngon lắm đó! Bên này không ai làm ngon bằng cô hết”.

52.jpg
Thưởng thức phở ở nhà hàng Phở Việt.

Để thành biểu tượng mạnh

Trong khi những cuộc tranh cãi về phở Nam Định hay phở Hà Nội vẫn âm ỉ thì món ăn này đã đi rất xa. Nó xuất hiện ở Paris, New York, Seoul và cả Cairo... Và nó đơn giản là Phở. Tại Mỹ đã có hơn 2.500 nhà hàng Việt được đăng ký chính thức, phần lớn trong số đó có phở là món chủ đạo. Ở Melbourne (Australia), theo một thống kê năm 2022, phở là món ăn châu Á được gọi nhiều thứ hai trên các ứng dụng giao đồ ăn, chỉ sau pad Thái của Thailand.

Một thực khách ở nhà hàng Phở Việt của Vạn Ý nói “Món này hơi giống một món súp truyền thống Ai Cập, nhưng nhiều lớp hương vị hơn”. Những sự kiện văn hóa do Đại sứ quán Việt Nam tổ chức, như “Vietnamese Culture Days” tại Cairo năm 2023, cũng góp phần đưa phở đến gần hơn với bạn bè quốc tế. Những bát phở nhỏ đã trở thành sứ giả lớn trong hành trình quảng bá văn hóa Việt.

Nhưng ra thế giới, phở hay nhiều món Việt cũng phải thay đổi. Như Vạn Ý từng kể, khẩu vị là thách thức lớn nhất: “Người Ai Cập ăn nhiều, ăn đậm, thích đồ ngọt, béo và nhiều thịt. Tụi em phải làm bát phở to hơn, nước dùng đậm vị hơn”. Đây chính là bài toán không dễ của ẩm thực Việt khi bước ra ngoài biên giới, làm sao để vừa giữ bản sắc, vừa linh hoạt thích nghi.

Có một câu đùa vui rằng: “Nếu muốn gây ra một cuộc tranh cãi lớn nhất, chỉ cần đứng ra giữa đường tuyên bố một hàng phở nào ngon nhất. Cả Việt Nam sẽ phản bác lại anh”. Nói vậy là để thấy, riêng về ẩm thực, lại là món quốc dân như phở, thì chín người mười ý. Huống chi là phở đã ra tới nước ngoài. Đi khắp năm châu, bảo là để có vị phở Việt, hoặc món ăn Việt đúng như ở Việt Nam thì hơi khó.

Năm nọ ở Bắc Kinh (Trung Quốc), tôi gọi bát phở với định lượng cỡ một... cái chậu thau, người phục vụ đã mang ra kèm vài lát chanh vàng. Nhà hàng ở khu trung tâm thủ đô Trung Quốc, bát phở giá 49 tệ (tương đương 150 nghìn đồng tiền Việt), không có dấm tỏi ớt, không có quẩy, thêm cả bò viên.

Bát phở tôi ăn ở Wok - một chuỗi nhà hàng châu Á có tiếng ở Bogota, thủ đô Colombia - là một bát phở với sợi phở khô, nước dùng đã không còn nhiều vị hồi quế đặc trưng nữa. Ông chủ của Wok đã từng có nhiều năm sống ở Thailand. Logo của nhà hàng là một ngôi sao đỏ, lấy cảm hứng từ ngôi sao trên lá cờ Việt Nam. Mặc dù thực đơn có đủ các món đặc trưng của 14 quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam. Ngoài phở còn có cả hủ tíu, bánh xèo miền tây, bún chả. Theo lời người quản lý nhà hàng, với đặc trưng chuỗi nhà hàng, việc làm bún, phở tươi là rất khó. Hơn nữa, việc phở/bún tươi hay khô lại không phải yêu cầu hàng đầu của các thực khách ở đây. Và nguyên tắc của họ là: Chỉ dùng nguyên liệu địa phương. Từ cá tươi của ngư dân Bahía Solano đến nghệ từ vùng Putumayo, tất cả đều là nỗ lực dung hòa giữa hương vị châu Á và điều kiện bản địa.

Nhưng thứ mà ẩm thực Việt mang ra thế giới không chỉ là hương vị, mà còn bởi câu chuyện phía sau mỗi bát phở. Đó là những người phụ nữ như mẹ con Vạn Ý vẫn tự tay làm bánh phở tươi. Đấy là hành trình của sự hòa nhập và yêu thương của một cô gái Việt xa nhà. Chiếc bánh xèo ở nhà hàng Wok, dù phần nhân đã ít nhiều thay đổi, thì vẫn cứ là thứ vỏ bánh mỏng tang, vàng ruộm. Đầu bếp đổ bánh xèo, là một người Colombia thuần chất, chưa từng đặt chân tới châu Á. Nhưng đó vẫn là một chiếc bánh xèo Việt Nam. Đấy là những sự kỳ diệu của một thế giới phẳng.

Nghệ nhân ẩm thực Ánh Tuyết, người gắn bó cả đời với bếp Việt, từng chia sẻ: “Việt Nam mình không hề kém cạnh về mặt ẩm thực so với các nước. Mình có gia vị Việt độc đáo, có món ngon, đặc sản, nhưng chẳng ai biết đến. Vấn đề là mình thiếu một chiến dịch truyền thông bài bản để thế giới biết đến ẩm thực Việt nhiều hơn”. Nhiều học giả gọi đó là “sức mạnh mềm” từ chiếc đũa.

Bà Ánh Tuyết lấy thí dụ về kim chi của Hàn Quốc, đó là một món bình dân nhưng được cả thế giới biết đến. Trong khi đó, Việt Nam có phở, bún chả, nem rán - những món đặc sắc, được nhiều du khách yêu thích, nhưng lại chưa thành biểu tượng mạnh. Bước ra thế giới, vấn đề không phải là “đây có phải chuẩn vị không nữa”, mà là câu chuyện văn hóa của một món ăn.

Ẩm thực Việt đã có mặt ở khắp thế giới, nhưng vẫn đang trong hành trình để thật sự được nhận diện đúng tầm vóc. Những người như Vạn Ý và mẹ cô ở Cairo không chỉ đang nấu ăn, họ đang giữ gìn một phần bản sắc, trong một môi trường hoàn toàn khác. Họ tự làm bánh phở, tự thích nghi, tự tạo dựng cộng đồng quanh những bữa ăn. Món Việt bước ra thế giới với đầy mầu sắc, phụ thuộc vào người nấu, nơi chốn, và khả năng linh hoạt. Nhưng đó có thể chính là thế mạnh. Vì phở hay bất cứ món Việt nào không cần phải giống nhau ở mọi nơi. Nó chỉ cần đúng với hoàn cảnh, đúng với người nấu, và đến được người ăn mà thôi.

“Ẩm thực Việt quý và độc đáo nhờ bề dày lịch sử, đúc kết bằng kinh nghiệm dân gian. Ngay cả rau thơm thôi cũng là vị thuốc, là văn hóa. Vấn đề là mình chưa kể câu chuyện của mình ra thế giới một cách đúng và đủ mạnh”, bà Tuyết nhận định.

Có thể bạn quan tâm

Anh hùng LLVTND Đinh Hữu Thuần trong một lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Từ canh trời Tổ quốc đến góc thiền giữa trời Tây Bắc

​Gặp lại người lính ra-đa năm nào, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Đinh Hữu Thuần, giờ đây là Thiền sư Thích Chánh Tuệ giữa mù sương Sa Pa, chúng tôi hiểu rằng: Sau cùng, vinh quang lớn nhất không phải là tấm huy chương lấp lánh trên ngực áo, mà là sự tự tại, bao dung trong một tâm hồn đã dâng hiến trọn vẹn cho Tổ quốc.

Quay tời thả “cá sắt” xuống dòng sông Năng.

Lặng lẽ Đầu Đẳng

Tôi mượn ý của nhà văn Nguyễn Thành Long trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” cũng để nói về những người làm nghề “gác” trạm khí tượng thủy văn ở Đầu Đẳng. Đã hơn 50 năm, tác phẩm "Lặng lẽ Sa Pa" ra đời nhưng ở Trạm thủy văn Đầu Đẳng (xã Ba Bể, Thái Nguyên) vẫn “ba không”: Không đường, không điện, không nước sạch.

Nghệ nhân Váng Vần Séng (trái) chơi đàn lìn xìn.

Đàn lìn xìn còn vang trên núi non

Thèn Hồng Quân dẫn tôi tới nhà ông Váng Vần Séng ở thôn Cốc Coọc, xã Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang. Ông là nghệ nhân chế tạo đàn lìn xìn - loại nhạc cụ dùng đệm cho các khúc hát dân gian của người Nùng. Đã lâu lắm mới lại có người hỏi đàn, ông nhớ người mua đàn một, nhớ điệu hát, tiếng đàn đến mười phần.

Đường lên khu A Trạm radar 485.

Vượt dốc thăm nhà trên núi của lính biển

Chỉ còn đúng một chuyến tàu cao tốc ra đảo Trà Bản (đặc khu Vân Đồn, Quảng Ninh) lúc chúng tôi tới. Những con tàu gỗ chở khách khác đã nép mình nơi góc cảng Cái Rồng. Trời đổ mưa từ sáng, gió ngoài vịnh Bái Tử Long cũng bắt đầu trở mình.

Cán bộ, chiến sĩ tàu 740 (Hải đoàn 129, Quân chủng Hải quân) được chở tới Nhà giàn DK1/20 để thực hiện bỏ phiếu sớm.

Lá phiếu chủ quyền trên sóng thềm lục địa

Những ngày đất liền vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị cho kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, thì trên Biển Đông, nhiều khu vực đã hoàn thành việc bỏ phiếu sớm. Năm nay, hành trình bỏ phiếu sớm cũng tiến hành ngay khi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vừa kết thúc.

Nhiệt huyết của những người lính ra khơi năm xưa còn chảy vào lớp người hôm nay ở Lý Sơn.

Nghĩa khí đất đảo hùng binh

Giữa mênh mang Biển Đông, hòn đảo vẫn lặng lẽ mà hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió, vừa là tiền đồn, vừa là chứng nhân cho hành trình mở cõi, giữ biển.

Những bản làng của đồng bào Pa Kô, Vân Kiều dọc đường biên giới.

Đi trong sương giá biên thùy

Có những chuyến đi để trở về, nhưng cũng có những chuyến đi để thấy mình “lớn” thêm trong sự nhỏ bé trước cuộc đời. Đêm 28 Tết Bính Ngọ, Hà Nội bắt đầu nồng nàn mùi nước lá mùi già, tôi lại chọn ngược gió, ngược sương để tìm về dải đất miền trung nắng cháy - nơi mà “Tết” là một khái niệm vừa thân thương, vừa xa xôi đến lạ lùng.

Kíp xuồng tàu Trường Sa 19 đang nhận hàng để đưa lên nhà giàn DK1/2 (bãi cạn Phúc Tần).

Đi về phía mặt trời (kỳ 1)

Từ cầu cảng KTQP Trường Sa (Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Thành phố Hồ Chí Minh) xuất phát, chúng tôi bắt đầu hải trình về nơi những bãi cạn trên thềm lục địa phía nam, trong chuyến thăm, chúc Tết theo thông lệ hằng năm. 

Trương Chấn Sang vẫn ngày ngày nỗ lực mang niềm tin và hy vọng đến cho những thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn trên khắp mọi miền Tổ quốc.

"Đi về phía nắng" từ bóng tối nghịch cảnh

Có những hạt mầm không may rơi vào kẽ đá, chịu đựng biết bao khắc nghiệt từ bão giông, nhưng khi vươn mình đón nắng lại trở thành nhành cây kiên cường nhất. Chàng trai sinh năm 1997 Trương Chấn Sang là một nhành cây như thế.

Anh Trần Thanh Quang (đứng giữa) lưu giữ nét tinh hoa ẩm thực Huế.

Ngọt thơm ký ức tìm về

Cứ độ Tết đến xuân về, trong mỗi gia đình xứ Huế luôn ngào ngạt hương thơm của các loại bánh mứt. Sự khéo tay, óc sáng tạo của người Huế được thể hiện qua từng đường nét và mùi vị bánh trái. Ánh nắng dịu nhẹ ở vùng đất cố đô xưa càng thêm bình yên qua từng câu chuyện về ẩm thực cung đình, bánh mứt dân gian.

Nhiều trẻ mắc chứng tự kỷ vui chơi với người thân tại khu vực Amehouse mà vợ chồng Vân Anh đã lập ra.

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Biểu diễn trống đất kết hợp hát ví, hát giang của người Mường.

Về đất Tổ nghe “Toòng Tửng” cùng trống đất

Trống đất không phải là một chiếc trống da như chúng ta hình dung bình thường, có thể mang đi, mà thật sự là nhạc cụ được tạo tác từ lòng đất. Còn Toòng Tửng là một nhạc cụ bộ gõ. Toòng Tửng đi cùng với trống đất mới tạo nên bộ nhạc cụ hoàn chỉnh.

Miến dong ở Côn Minh vẫn được phơi nắng theo phương pháp truyền thống.

Thương hiệu dong riềng trên đất sỏi

Khi sương muối giăng kín đỉnh Áng Toòng, đất Côn Minh (tỉnh Thái Nguyên) bừng tỉnh trong nhịp sống hối hả nhất của năm. Trên những sườn đồi cằn sỏi đá, cây dong riềng “ăn sương, uống gió” vẫn bung hoa đỏ. Những củ dong xù xì qua đôi bàn tay cần cù tạo nên những sợi miến dai ngon danh bất hư truyền.

Nghề nuôi thủy sản tại vịnh Xuân Đài đang gượng dậy sau thiên tai.

Bắt đầu lại với những điều chưa bao giờ

Chưa bao giờ người dân Phú Yên và Quy Nhơn cũ (nay là Gia Lai và Đắk Lắk) lại xuống giống vụ đông xuân muộn thế. Chưa bao giờ những chợ tôm hùm ở Sông Cầu (Đắk Lắk) mùa này vắng thế. Chưa bao giờ hai nơi này lại nhiều ngôi nhà phải xây sửa đến thế, dù đang vào mùa mưa...

Phạm nhân T.T.T. chạy lại đỡ mẹ già trên sân khấu chương trình.

Thắp sáng những ước mơ hoàn lương

Phía sau mỗi bản án đều là một cuộc đời. Khi sai lầm được nhận thức đúng và đủ, khát vọng làm lại sẽ thay thế những gam mầu tối trong tâm tưởng mỗi con người. Nhờ những chính sách khoan hồng của Nhà nước, ngày về trong giấc mơ mỗi đêm của phạm nhân T.T.T. đã không còn xa.

Giờ học tại điểm trường Coọc Mu.

Coọc Mu ngày ấy và bây giờ

Từng là “ốc đảo” bị lãng quên giữa đại ngàn, nơi ấy hơn 20 năm về trước, hàng chục số phận bị căn bệnh phong quái ác hành hạ, thôn Coọc Mu, xã Hoàng Trĩ (tỉnh Bắc Kạn cũ), nay là xã Đồng Phúc (tỉnh Thái Nguyên) đã hồi sinh.

Anh Ngô Quý Đức (bên trái) kiểm tra quy trình tạo tác liễn làng Chuồn.

Hồi sinh liễn làng Chuồn

Nhắc đến làng Chuồn (tên chữ là An Truyền) thuộc phường Mỹ Thượng, thành phố Huế, người ta thường nghĩ ngay đến một nét đẹp văn hóa độc đáo mà nay đã thất truyền, đó là nghề làm liễn Tết thủ công. Bằng sự tận tâm, tỉ mỉ của những người yêu văn hóa, từng bức liễn làng Chuồn đã được hồi sinh.

Điều còn lại sau chiến tranh

Điều còn lại sau chiến tranh

Cuộc đời lặng lẽ trong chờ đợi của người lính cuối cùng Trung đội Mai Quốc Ca, nhắc chúng ta rằng, lịch sử không chỉ được làm nên bởi những khoảnh khắc rực rỡ, mà còn bởi những năm tháng rất dài sau đó.

Khoảnh khắc bà Nguyễn Thị Bích cười tươi khi đón di ảnh của người bạn đời.

Niềm vui ngày các Anh về

Gần 60 năm đã trôi qua, ba cô con gái cũng đều đã lên chức bà nội, bà ngoại, nhưng chưa ngày nào cụ bà Nguyễn Thị Bích nguôi nỗi nhớ người bạn đời của mình. Năm 1967, anh Bí thư Đoàn Thanh niên xã Nam Ninh, huyện Nam Trực (tỉnh Nam Định cũ) Đặng Xuân Đạo tình nguyện lên đường “vào B” đánh giặc rồi mãi mãi không trở về.