Hồi sinh liễn làng Chuồn

Nhắc đến làng Chuồn (tên chữ là An Truyền) thuộc phường Mỹ Thượng, thành phố Huế, người ta thường nghĩ ngay đến một nét đẹp văn hóa độc đáo mà nay đã thất truyền, đó là nghề làm liễn Tết thủ công. Bằng sự tận tâm, tỉ mỉ của những người yêu văn hóa, từng bức liễn làng Chuồn đã được hồi sinh.

Anh Ngô Quý Đức (bên trái) kiểm tra quy trình tạo tác liễn làng Chuồn.
Anh Ngô Quý Đức (bên trái) kiểm tra quy trình tạo tác liễn làng Chuồn.

Tìm lại từng mảnh ghép

Liễn là tên gọi chung cho các tấm giấy hồng điều dùng để viết chữ, câu đối trang trí trong nhà vào dịp Tết Nguyên đán. Liễn làng Chuồn là dòng sản phẩm liễn Tết đặc trưng, ra đời từ chính làng Chuồn - một vùng đất nổi tiếng với truyền thống hiếu học và khoa bảng của xứ Huế.

Trước thực tế liễn làng Chuồn dần biến mất, anh Đoàn Công Quốc Tuấn, Giám đốc Công ty Thương mại và Du lịch Long Mã, dành nhiều thời gian lui tới ngôi làng, với mong muốn tìm lại chút hồn cốt của nghề này. Năm 2020, anh Tuấn trực tiếp ghé thăm nhà thờ họ Đoàn của làng và tìm được một bức liễn. Tuy nhiên, bức liễn này đã bị mục nát, mầu sắc phai nhạt. “Bản thân tôi rất xót xa bởi một làng nghề từng rất phổ biến mỗi độ Tết đến xuân về đã bị lụi tàn. Những bức liễn từng mang sắc mầu rực rỡ, gửi gắm ước vọng may mắn và an lành, thì nay dường như chỉ còn tồn tại trong ký ức”, anh Tuấn cho hay.

Dù bức liễn cuối cùng ở làng Chuồn đã xuống cấp nhưng các đường nét như long, lân, quy, phụng và một chữ Phúc nằm chính giữa vẫn hiện ra. Đó là cơ sở quan trọng để anh Tuấn tiếp tục nghiên cứu sâu về liễn làng Chuồn.

Trong các tư liệu anh Tuấn tìm được, trước kia, nghề làm liễn ở làng Chuồn thường nhộn nhịp vào thời điểm những tháng cuối năm. Ở làng Chuồn từng có ba nghệ nhân am hiểu và chế tác được liễn đúng quy cách. Khi các nghệ nhân qua đời, nghề làm liễn dần rơi vào quên lãng. Đáng buồn là bộ mộc bản cuối cùng của làng đã thất lạc. Câu chuyện của liễn làng Chuồn như một bài học sâu sắc về sự mong manh của di sản văn hóa trước dòng chảy khắc nghiệt của thời gian và sự thay đổi của xã hội.

Cơ duyên giúp anh Tuấn gặp gỡ anh Ngô Quý Đức, người đã dành gần 20 năm theo đuổi công việc bảo tồn và phát triển các nghề truyền thống phía bắc. Lần này đến thành phố Huế, anh Đức ra mắt không gian Ngự Hà Viên tại phường Phú Xuân, nơi kể các câu chuyện văn hóa của vùng đất cố đô.

Anh Đức cho rằng, giá trị của liễn làng Chuồn không chỉ nằm ở vẻ đẹp thẩm mỹ mà còn ở vai trò xã hội và ý nghĩa văn hóa sâu sắc của bức liễn. Đặc biệt, anh Đức vừa tìm được thông tin mới nhất là bộ liễn làng Chuồn nguyên bản sẽ có năm mảnh ghép, thay vì ba mảnh ghép như trước đây. Thông tin quan trọng này do một người dân gốc làng Chuồn hiện đang định cư tại Mỹ cung cấp.

Liễn làng Chuồn chứa đựng bao nét đẹp của vùng đất Huế. Trước đây, thú chơi câu đối, hoành phi thường chỉ dành cho giới quan lại, sĩ phu, những gia đình giàu có. Nhưng bằng cách sử dụng vật liệu rẻ tiền (giấy báo nhuộm mầu) và kỹ thuật in mộc bản, nghệ nhân làng Chuồn đã tạo ra những sản phẩm giá rẻ, giúp các gia đình nghèo khó nhất cũng có thể trang hoàng nhà cửa, ban thờ một cách trang trọng trong ngày Tết. “Như lời cố nghệ nhân Huỳnh Lý (người giữ nghề liễn cuối cùng của làng Chuồn) từng nói, nghề của ông là để đem mùa xuân vào nhà người nghèo", anh Đức chia sẻ.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông, nguyên Phân Viện trưởng Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam tại thành phố Huế cho rằng, liễn làng Chuồn được nghệ nhân trau chuốt về mặt nghệ thuật để người mua trang trí, làm đẹp ngôi nhà trong ngày Tết hay các dịp gia đạo hiếu hỉ. Đó là các mẫu cát tường tự (Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh...) hoặc các câu đối chúc phúc được in từ mộc bản. Nền giấy được trang trí lộng lẫy bằng các họa tiết tứ linh, bát bửu, cổ đồ... Chúng còn được bồi phủ sắc điều, chỉ vàng, kẽ lục để trở thành một tác phẩm hoàn chỉnh và trang trọng. Chúng ta có thể khai thác ứng dụng chúng trong tranh Tết, in bao lì xì, thiệp cung chúc tân xuân, bao bì sản phẩm... để nuôi sống và phát triển làng nghề này.

52.jpg
Khắc mộc bản đóng vai trò tiên quyết để cho ra bức liễn đẹp.

Một chương mới đầy hy vọng

Kỹ thuật in khắc của liễn làng Chuồn có sự tương đồng và gắn kết với mộc bản làng Thanh Liễu (tỉnh Hải Dương cũ). Cùng với đó, liễn làng Chuồn có chung một dòng chảy với các dòng tranh dân gian khác như tranh Đông Hồ (tỉnh Bắc Ninh), tranh Kim Hoàng, tranh Hàng Trống (Hà Nội)... và cả với nghề làm giấy dó, giấy điều xưa.

Hành trình tìm lại giá trị tinh hoa của liễn làng Chuồn gồm ba giai đoạn. Đầu tiên là việc phục dựng nguyên bản dựa trên các tư liệu còn sót lại, tạo ra bộ liễn chân thực nhất. Sau đó, nhóm anh Đức mở rộng các thiết kế mẫu liễn mới, phù hợp cho từng nếp nhà Việt. Cuối cùng, mục tiêu quan trọng nhất là việc trao truyền, tìm thế hệ kế thừa. Anh Đức dự kiến mở những lớp đào tạo về cả kỹ thuật khắc ván và in liễn, kỹ thuật tô mầu cho tranh ngay tại thành phố Huế.

“Từ khâu vẽ, in đến tô mầu hoàn thiện cho bức liễn là một quy trình khép kín. Do đó, người thực hiện các công đoạn phải tập trung cao độ. Bước đầu khi nào cũng có những bỡ ngỡ. Chỉ cần chúng ta yêu thích liễn sẽ dễ dàng nâng cao các kỹ năng hoàn thiện sản phẩm. Tôi luôn tự hỏi: Với những di sản đang sống, ta tìm cách lan tỏa. Vậy với những di sản đã mất, liệu chúng ta có thể làm gì thay vì tiếc nuối?”, anh Ngô Quý Đức nói.

Theo đó, chất liệu gỗ thị được anh Đức sử dụng để tạo thành tấm mộc bản. Gỗ thị có đặc điểm ít bị cong vênh, nứt vỡ, phù hợp để làm khuôn chữ trong thời gian rất lâu. Các nghệ nhân làng Thanh Liễu đánh giá, nếu bảo quản trong điều kiện ổn định, phôi gỗ thị có thể tồn tại hơn 100 năm.

Qua bàn tay tài hoa và những nét khắc điêu luyện của nghệ nhân làng Thanh Liễu, từng đường khắc sắc sảo dần hiện ra. Để đạt được độ sắc nét này, người thợ phải điều khiển con dao đi ngang với một lực vừa đủ, vừa dứt khoát nhưng cũng phải cực kỳ mềm mại, nương theo thớ gỗ để không làm vỡ nét. Đối với tấm mộc bản kích thước 110cm x 90cm, công đoạn điêu khắc không cho phép sai sót. Chỉ cần một nét khắc lỡ tay sẽ làm hỏng cả bức hình trên tấm gỗ quý.

Theo anh Tuấn, để giải quyết câu chuyện hồi sinh cho nghề làm liễn làng Chuồn, điều cần nhất là đẩy mạnh thương mại hóa sản phẩm liễn, nhất là trong thời điểm cuối năm và Tết Nguyên đán. “Chúng tôi đang tập trung vào hai phân khúc sản phẩm là liễn có giá thành cao và liễn có giá thành bình dân. Sở dĩ có hai lựa chọn sản phẩm liễn làng Chuồn là bởi nếu đặt trong bối cảnh một không gian sưu tầm, bảo tồn văn hóa sẽ cần tấm liễn sắc sảo, kỳ công. Cùng với đó, dòng sản phẩm bình dân sẽ phù hợp cho mọi gia đình có thể tìm mua và trưng bày trong nhà”, anh Tuấn chia sẻ.

Công ty anh Tuấn cũng đóng vai trò cầu nối đưa du khách đến Ngự Hà Viên trải nghiệm làm liễn. Kinh nghiệm đưa thương mại đi trước, du lịch đi sau của anh Tuấn đã được khẳng định khi nhiều làng nghề ở thành phố Huế “sống lại” khi anh Tuấn trực tiếp hỗ trợ.

Hướng đến mục tiêu giúp liễn làng Chuồn tồn tại lâu dài, anh Đoàn Công Quốc Tuấn nhìn nhận: “Trước hết, việc kể câu chuyện liễn ngay trong làng xóm, cộng đồng dân cư cần được chú trọng. Lộ trình cơ bản là bán từng sản phẩm liễn với giá thành vừa phải để có kinh phí “nuôi” hoạt động đón khách du lịch trong tương lai. Liễn làng Chuồn sẽ là một lựa chọn của khách du lịch khi họ đến Huế. Từng đường nét tinh xảo tạo nên sự hoành tráng cho bộ liễn. Trong tương lai, khi mọi người được nghe câu chuyện về liễn làng Chuồn ở một nơi nào đó vẫn rất thú vị”.

Từ một bức liễn được hồi sinh, nghề liễn làng Chuồn dần quay trở lại. Truyền thống không chỉ được nhắc nhớ mà còn tiếp tục chuyển mình bằng nhiệt huyết và tình cảm của thế hệ hôm nay.

Trong quá trình chế tác liễn, kỹ thuật “nửa in, nửa vẽ” là một sự kết hợp thông minh giữa in ấn và nghệ thuật. Theo đó, mộc bản giúp in phần chữ và các đường nét một cách nhanh chóng. Tiếp theo, các nghệ nhân tô mầu thủ công, giúp thổi hồn vào tác phẩm, khiến mỗi bộ liễn đều có tính độc đáo riêng.

Có thể bạn quan tâm

Quay tời thả “cá sắt” xuống dòng sông Năng.

Lặng lẽ Đầu Đẳng

Tôi mượn ý của nhà văn Nguyễn Thành Long trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” cũng để nói về những người làm nghề “gác” trạm khí tượng thủy văn ở Đầu Đẳng. Đã hơn 50 năm, tác phẩm "Lặng lẽ Sa Pa" ra đời nhưng ở Trạm thủy văn Đầu Đẳng (xã Ba Bể, Thái Nguyên) vẫn “ba không”: Không đường, không điện, không nước sạch.

Nghệ nhân Váng Vần Séng (trái) chơi đàn lìn xìn.

Đàn lìn xìn còn vang trên núi non

Thèn Hồng Quân dẫn tôi tới nhà ông Váng Vần Séng ở thôn Cốc Coọc, xã Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang. Ông là nghệ nhân chế tạo đàn lìn xìn - loại nhạc cụ dùng đệm cho các khúc hát dân gian của người Nùng. Đã lâu lắm mới lại có người hỏi đàn, ông nhớ người mua đàn một, nhớ điệu hát, tiếng đàn đến mười phần.

Đường lên khu A Trạm radar 485.

Vượt dốc thăm nhà trên núi của lính biển

Chỉ còn đúng một chuyến tàu cao tốc ra đảo Trà Bản (đặc khu Vân Đồn, Quảng Ninh) lúc chúng tôi tới. Những con tàu gỗ chở khách khác đã nép mình nơi góc cảng Cái Rồng. Trời đổ mưa từ sáng, gió ngoài vịnh Bái Tử Long cũng bắt đầu trở mình.

Cán bộ, chiến sĩ tàu 740 (Hải đoàn 129, Quân chủng Hải quân) được chở tới Nhà giàn DK1/20 để thực hiện bỏ phiếu sớm.

Lá phiếu chủ quyền trên sóng thềm lục địa

Những ngày đất liền vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị cho kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, thì trên Biển Đông, nhiều khu vực đã hoàn thành việc bỏ phiếu sớm. Năm nay, hành trình bỏ phiếu sớm cũng tiến hành ngay khi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vừa kết thúc.

Nhiệt huyết của những người lính ra khơi năm xưa còn chảy vào lớp người hôm nay ở Lý Sơn.

Nghĩa khí đất đảo hùng binh

Giữa mênh mang Biển Đông, hòn đảo vẫn lặng lẽ mà hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió, vừa là tiền đồn, vừa là chứng nhân cho hành trình mở cõi, giữ biển.

Những bản làng của đồng bào Pa Kô, Vân Kiều dọc đường biên giới.

Đi trong sương giá biên thùy

Có những chuyến đi để trở về, nhưng cũng có những chuyến đi để thấy mình “lớn” thêm trong sự nhỏ bé trước cuộc đời. Đêm 28 Tết Bính Ngọ, Hà Nội bắt đầu nồng nàn mùi nước lá mùi già, tôi lại chọn ngược gió, ngược sương để tìm về dải đất miền trung nắng cháy - nơi mà “Tết” là một khái niệm vừa thân thương, vừa xa xôi đến lạ lùng.

Kíp xuồng tàu Trường Sa 19 đang nhận hàng để đưa lên nhà giàn DK1/2 (bãi cạn Phúc Tần).

Đi về phía mặt trời (kỳ 1)

Từ cầu cảng KTQP Trường Sa (Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Thành phố Hồ Chí Minh) xuất phát, chúng tôi bắt đầu hải trình về nơi những bãi cạn trên thềm lục địa phía nam, trong chuyến thăm, chúc Tết theo thông lệ hằng năm. 

Trương Chấn Sang vẫn ngày ngày nỗ lực mang niềm tin và hy vọng đến cho những thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn trên khắp mọi miền Tổ quốc.

"Đi về phía nắng" từ bóng tối nghịch cảnh

Có những hạt mầm không may rơi vào kẽ đá, chịu đựng biết bao khắc nghiệt từ bão giông, nhưng khi vươn mình đón nắng lại trở thành nhành cây kiên cường nhất. Chàng trai sinh năm 1997 Trương Chấn Sang là một nhành cây như thế.

Anh Trần Thanh Quang (đứng giữa) lưu giữ nét tinh hoa ẩm thực Huế.

Ngọt thơm ký ức tìm về

Cứ độ Tết đến xuân về, trong mỗi gia đình xứ Huế luôn ngào ngạt hương thơm của các loại bánh mứt. Sự khéo tay, óc sáng tạo của người Huế được thể hiện qua từng đường nét và mùi vị bánh trái. Ánh nắng dịu nhẹ ở vùng đất cố đô xưa càng thêm bình yên qua từng câu chuyện về ẩm thực cung đình, bánh mứt dân gian.

Nhiều trẻ mắc chứng tự kỷ vui chơi với người thân tại khu vực Amehouse mà vợ chồng Vân Anh đã lập ra.

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Biểu diễn trống đất kết hợp hát ví, hát giang của người Mường.

Về đất Tổ nghe “Toòng Tửng” cùng trống đất

Trống đất không phải là một chiếc trống da như chúng ta hình dung bình thường, có thể mang đi, mà thật sự là nhạc cụ được tạo tác từ lòng đất. Còn Toòng Tửng là một nhạc cụ bộ gõ. Toòng Tửng đi cùng với trống đất mới tạo nên bộ nhạc cụ hoàn chỉnh.

Miến dong ở Côn Minh vẫn được phơi nắng theo phương pháp truyền thống.

Thương hiệu dong riềng trên đất sỏi

Khi sương muối giăng kín đỉnh Áng Toòng, đất Côn Minh (tỉnh Thái Nguyên) bừng tỉnh trong nhịp sống hối hả nhất của năm. Trên những sườn đồi cằn sỏi đá, cây dong riềng “ăn sương, uống gió” vẫn bung hoa đỏ. Những củ dong xù xì qua đôi bàn tay cần cù tạo nên những sợi miến dai ngon danh bất hư truyền.

Nghề nuôi thủy sản tại vịnh Xuân Đài đang gượng dậy sau thiên tai.

Bắt đầu lại với những điều chưa bao giờ

Chưa bao giờ người dân Phú Yên và Quy Nhơn cũ (nay là Gia Lai và Đắk Lắk) lại xuống giống vụ đông xuân muộn thế. Chưa bao giờ những chợ tôm hùm ở Sông Cầu (Đắk Lắk) mùa này vắng thế. Chưa bao giờ hai nơi này lại nhiều ngôi nhà phải xây sửa đến thế, dù đang vào mùa mưa...

Phạm nhân T.T.T. chạy lại đỡ mẹ già trên sân khấu chương trình.

Thắp sáng những ước mơ hoàn lương

Phía sau mỗi bản án đều là một cuộc đời. Khi sai lầm được nhận thức đúng và đủ, khát vọng làm lại sẽ thay thế những gam mầu tối trong tâm tưởng mỗi con người. Nhờ những chính sách khoan hồng của Nhà nước, ngày về trong giấc mơ mỗi đêm của phạm nhân T.T.T. đã không còn xa.

Giờ học tại điểm trường Coọc Mu.

Coọc Mu ngày ấy và bây giờ

Từng là “ốc đảo” bị lãng quên giữa đại ngàn, nơi ấy hơn 20 năm về trước, hàng chục số phận bị căn bệnh phong quái ác hành hạ, thôn Coọc Mu, xã Hoàng Trĩ (tỉnh Bắc Kạn cũ), nay là xã Đồng Phúc (tỉnh Thái Nguyên) đã hồi sinh.

Điều còn lại sau chiến tranh

Điều còn lại sau chiến tranh

Cuộc đời lặng lẽ trong chờ đợi của người lính cuối cùng Trung đội Mai Quốc Ca, nhắc chúng ta rằng, lịch sử không chỉ được làm nên bởi những khoảnh khắc rực rỡ, mà còn bởi những năm tháng rất dài sau đó.

Khoảnh khắc bà Nguyễn Thị Bích cười tươi khi đón di ảnh của người bạn đời.

Niềm vui ngày các Anh về

Gần 60 năm đã trôi qua, ba cô con gái cũng đều đã lên chức bà nội, bà ngoại, nhưng chưa ngày nào cụ bà Nguyễn Thị Bích nguôi nỗi nhớ người bạn đời của mình. Năm 1967, anh Bí thư Đoàn Thanh niên xã Nam Ninh, huyện Nam Trực (tỉnh Nam Định cũ) Đặng Xuân Đạo tình nguyện lên đường “vào B” đánh giặc rồi mãi mãi không trở về.

Kíp trắc thủ điều khiển tiểu đoàn 52, Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (từ ngoài vào trong: Trần Hay, trắc thủ phương vị; Hoàng Văn Nam, trắc thủ cự ly; Vương Thái Thanh, trắc thủ góc tà).

Khoảng im lặng sau chiến thắng

Thiếu tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hoàng Văn Nam (nguyên sĩ quan điều khiển tên lửa, Tiểu đoàn 52, Trung đoàn 267, Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không - Không quân) bảo lúc đi lính, ông muốn mình vào không quân, được thành phi công lái máy bay chiến đấu nhưng thị lực không đạt yêu cầu.

Người dân thôn Khuổi Cò thu hoạch quýt.

Đi giữa vùng quýt cổ

Khi những cơn gió bấc đầu tiên tràn về mang theo hơi lạnh của mùa đông thì cũng là lúc trên những triền đồi ở xã Bạch Thông, tỉnh Thái Nguyên lại ngập sắc vàng của những trái quýt giòn.