Về đất Tổ nghe “Toòng Tửng” cùng trống đất

Trống đất không phải là một chiếc trống da như chúng ta hình dung bình thường, có thể mang đi, mà thật sự là nhạc cụ được tạo tác từ lòng đất. Còn Toòng Tửng là một nhạc cụ bộ gõ. Toòng Tửng đi cùng với trống đất mới tạo nên bộ nhạc cụ hoàn chỉnh.

Biểu diễn trống đất kết hợp hát ví, hát giang của người Mường.
Biểu diễn trống đất kết hợp hát ví, hát giang của người Mường.

Trống đất cùng Toòng Tửng là nhạc cụ cực kỳ độc đáo của người Mường, không chỉ ở cách làm và thanh âm mà còn ở khâu “xin giấy phép” nữa.

Nhạc cụ “chất chơi”

Không hiểu sao khi nghe truyền thuyết về sự ra đời của trống đất, cách làm và sử dụng loại trống này, tôi cứ mỉm cười với suy nghĩ rằng cha ông ta thật sự “chất chơi”. Chả thế thì sao, một vị tướng được mệnh danh “tứ bất tử” của người Việt là Thánh Tản Viên Sơn, khi thắng trận đi qua vùng đất Thanh Sơn cho quân sĩ hạ trại, ăn mừng chiến thắng, chỉ nghe được tiếng đào đất chôn cọc dựng trại, mà có thể liên tưởng ngay đến một nhạc cụ. Rồi sau này các con cháu của vị thánh cũng vẫn duy trì loại trống đất này, dù mỗi chiếc chỉ dùng được một lần, và chẳng thể mang đi đâu được. Khi ăn mừng chiến thắng, nhảy múa hát ca…, người dân sẽ quây quần quanh trống đất, cùng với các bộ môn trình diễn truyền thống khác như đâm đuống, hát ví, hát giang tấu lên không khí lễ hội vui tưng bừng. Và chiếc trống đó được tạo nên bằng cách đào xuống đất, giữa bầu trời bao la hay ruộng đồng, bãi đất rộng thoáng đãng…, nên để chơi được hay nhất thì chỉ dùng một lần mà thôi.

Thời hiện đại, chúng ta có vô số đồ dùng một lần, nhưng làm gì có thứ nào vừa thể hiện chất “nghệ”, lại vừa đặc sắc được như “trống dùng một lần” của các cụ. Với những thứ cầu kỳ như các nhạc cụ chúng ta biết thì đều để dùng vô số lần, thậm chí suốt cả cuộc đời nghệ sĩ. Trống đất chỉ dùng một lần, nhưng để làm ra nó cũng không hề đơn giản, có những khâu khá là tốn công sức. Bởi vậy mới nói, người làm và chơi trống đất thật sự có thể gọi là một “tay chơi”.

Khi tôi đến Phú Thọ thì thật may vì được giới thiệu ông Ngọc Quang Thức (Văn Miếu, Phú Thọ) đúng dịp ông chuẩn bị sang vùng du lịch đồi chè Long Cốc làm trống đất phục vụ một đoàn khách. Trước khi làm trống, người Mường phải thực hiện một nghi lễ “xin phép” nghiêm trang. “Làm trống đất là phải đào xuống lòng đất và lúc biểu diễn cũng tạo ra âm thanh vang khắp lòng đất, động đến thổ địa, thế nên chúng tôi phải dâng lễ vật để thỉnh các chư vị thần linh cho phép thực hiện”, ông Thức giảng giải lý do cần có lễ xin làm trống là vậy. Hôm nay, ông đi làm cho làng khác, nên người cúng cũng không phải là ông, mà là già làng tại đó. Mâm cúng cũng không quá cầu kỳ ở lễ vật, chỉ cần một con gà, đĩa xôi, chén rượu, bởi quan trọng nhất là sự thành tâm. Già làng ở Long Cốc cho hay, nội dung chính bài cúng là mong thần đất bốn phương chứng giám, giúp làm cho đất rắn hơn, tiếng trống vang hơn, điệu hát vui hơn; cầu mong tiếng trống mang lại mùa màng tươi tốt, cuộc sống ấm no cho người dân.

Mâm cúng cũng được đặt ngay giữa khoảng đất mà ông Thức dự định làm trống. Do đó, ngay sau bài cúng, chúng tôi có thể được chứng kiến quá trình ông làm trống đất. “Đất phải là miếng đất thịt, khi đào xuống phải mịn, không được xốp, như vậy thì trống mới âm vang, vọng xa được”, ông Thức cho hay.

Tìm được khu vực có chất đất như ý, ông bắt tay vào đào một cái hố với đường kính khoảng 20 cm, đào sâu xuống khoảng 40-50 cm, khéo léo khoét thành lòng chum. Công đoạn đào đất không quá cầu kỳ, cơ bản là tạo thành một chiếc hố vừa vặn theo tỷ lệ như trên, mà theo ông Thức thì khâu vất vả nhất là làm mặt trống. Ông đã chuẩn bị mặt trống để làm cho chúng tôi xem chiếc lần này rồi, còn trước đó, ông phải vào rừng sâu, đi đúng mùa và tuyển chọn kỹ lưỡng từ hàng trăm mo cau hoặc mo bương mới được một chiếc ưng ý. “Mo cau chuẩn phải là mo tương đối mỏng, khô kiệt và cứng”, ông Thức chia sẻ bí kíp có chiếc mo cau làm mặt trống đạt. Để có chiếc mo khô như vậy, từ khi mo còn tươi, ông phải cắt sẵn thành hình chữ nhật, đem sấy hoặc phơi khô nhiều nắng - tuỳ theo mùa nắng mà căn chỉnh, rồi sau đó lại mang ép phẳng. “Như vậy mới chuẩn”, ông Thức kết luận. Bên cạnh đó cũng có thể dùng mo cây bương, vì mo bương khá mỏng mà lại dai, cứng hơn mo cau.

Trở lại với hố đất, khi đã đào xong và có một chiếc mo đạt chuẩn rồi thì đặt mo lên, che miệng hố, rồi ghim chặt mo lại. Như các loại trống khác, mặt trống phải kín thì âm thanh mới chuẩn, do đó công đoạn này ông Thức làm rất cẩn trọng. Rồi ông lại đóng hai chiếc cọc hai bên hố, chăng ngang một sợi dây rừng dài khoảng 2 m nối hai cọc làm sợi ngang. Hai cọc tre này phải có độ dày khác nhau, một bên dày, một bên mỏng, để tạo ra các âm vực khác nhau cho trống. Một đoạn dây dài chừng 2 m được buộc chặt vào hai cọc tre làm sợi ngang. Trước đó, người ta luồn một cái dây qua giữa mặt mo cau, rồi kéo chiếc dây đó lên, buộc vào sợi dây nối hai chiếc cọc, tạo nên kết cấu khá hoàn chỉnh của chiếc trống đất. Sợi dây nối hai cọc được sợi dây từ mặt mo cau nối vào, chia thành hai khoảng có độ dài không đều nhau. Bên dây ngắn, căng sẽ phát ra tiếng nhạc cao, bên dây dài, trùng thì phát ra tiếng trầm, để khi đánh vào sợi dây tạo ra hai loại thanh bùng binh nghe rộn rã.

Cuộc chơi hoàn hảo phải có sự kết hợp giữa trống đất và Toòng Tửng. Toòng Tửng theo lời ông Thức phải làm từ nứa, bởi nứa có thành mỏng hơn tre, khoang cũng rộng hơn, giúp âm thanh vang hơn. Để nhạc cụ này phát huy hết thanh âm của nó, cần phải làm ngay khi nứa còn tươi, còn dẻo. Sau khi cùng ông Thức vào rừng chọn một khúc nứa thật già, thẳng, chúng tôi lại được chứng kiến đôi tay thuần thục của ông khoét một khoang nứa tạo thang âm, rồi lùa chiếc dao vào hai bên mép khoang, mỗi bên khoét rồi chuốt một lát nứa mỏng tạo thành hai “sợi dây”. Cuối cùng, ông cố định hai sợi dây bằng một cái chốt, khiến cho dây căng và ổn định.

Trống đất chỉ ông Thức lại dùng một đoạn tre, tưởng như tùy tiện nhưng lại phù hợp đến lạ, tạo thành chiếc đũa dài, gõ lên sợi dây được căng trên mặt trống, đồng thời chiếc đũa thứ hai ông gõ vào Toòng Tửng, tạo nên một bản nhạc trầm bổng, ngân vang.

Giống như những nghệ sĩ trống, ông Thức cũng hai tay hai đũa, gõ đều, chỉ khác là ông biểu diễn giữa đất trời lồng lộng, trong bộ quần áo nâu giản dị, mỉm cười phiêu diêu với gió rừng, trong tiếng nói cười lao xao của dân làng, với một chiếc trống mà âm thanh vọng lên từ sâu lòng đất, lúc âm rền, lúc khô và đanh thép, lúc lại ngân dài mượt mà… thật là một khung cảnh mang âm hưởng sử thi thật trang trọng nhưng cũng rất dân giã, xúc động.

Khi nghệ sĩ trống hoàn thành bài biểu diễn “solo”, đội văn nghệ của làng liền nhập cuộc. Lúc này tiếng đâm đuống lách cách, tiếng hát ví hát giang hòa quyện với tiếng trống đất tạo nên một bản giao hưởng núi rừng thật rộn rã, tươi sáng. Ông Thức bảo rằng, có nhiều loại trống dùng trong cả những dịp buồn, đám hiếu… nhưng riêng trống đất, với lịch sử Thánh Tản Viên ra lệnh làm để khao quân, thì đến ngày nay nhạc cụ này vẫn chỉ dùng vào những dịp vui, liên hoan nhảy múa, mừng cơm mới hay mở cửa rừng… của người Mường.

Cũng giống như sự dung dị và hồn hậu của người Mường, không ai giữ riêng bí kíp làm trống đất. Ông Thức sẵn sàng chỉ dạy cho con cháu hoặc bất cứ ai yêu thích nhạc cụ này. Ông cười bảo, ngày bé đi chăn trâu được người lớn chỉ cho làm, rồi cả đám trẻ cùng làm với nhau, sau này lớn lên nhớ đến nên làm cho bọn trẻ xem.

Để trống đất - Toòng Tửng mãi vang

Ngày nay nghi lễ xin thần linh và quy trình làm, biểu diễn trống còn được duy trì trong lễ hội đình Nưa, diễn ra vào tháng 2 âm lịch tại Văn Miếu, Phú Thọ nhằm ghi nhớ công ơn vị Thánh và tái hiện không khí mừng chiến thắng của quân ta thời xa xưa. Nhưng để phổ biến loại trống này cũng không phải dễ. Đó là nỗi niềm của ông Thức và của chung những người thế hệ xưa.

Từ cách làm trống, nghi lễ xin phép thần linh, sự gắn kết với đất mẹ, cho tới các nguyên liệu khác đều gắn với cây tre, cây bương, dây rừng… những thứ thân thuộc với cộng đồng. Do đó, loại trống này không chỉ thể hiện sự tôn vinh các vị thần mà còn là lối sống hòa hợp thiên nhiên, đất trời của người Mường từ hàng nghìn năm nay và cần được bảo tồn, phát huy phù hợp trong đời sống hiện đại. Ông mong muốn các nhà nghiên cứu văn hóa, các cấp chính quyền có thể cùng nhau vào cuộc để nghiên cứu bài bản hơn về trống đất, để công tác truyền dạy cũng thuận lợi, hấp dẫn hơn với giới trẻ ngày nay.

Có thể bạn quan tâm

Miến dong ở Côn Minh vẫn được phơi nắng theo phương pháp truyền thống.

Thương hiệu dong riềng trên đất sỏi

Khi sương muối giăng kín đỉnh Áng Toòng, đất Côn Minh (tỉnh Thái Nguyên) bừng tỉnh trong nhịp sống hối hả nhất của năm. Trên những sườn đồi cằn sỏi đá, cây dong riềng “ăn sương, uống gió” vẫn bung hoa đỏ. Những củ dong xù xì qua đôi bàn tay cần cù tạo nên những sợi miến dai ngon danh bất hư truyền.

Nghề nuôi thủy sản tại vịnh Xuân Đài đang gượng dậy sau thiên tai.

Bắt đầu lại với những điều chưa bao giờ

Chưa bao giờ người dân Phú Yên và Quy Nhơn cũ (nay là Gia Lai và Đắk Lắk) lại xuống giống vụ đông xuân muộn thế. Chưa bao giờ những chợ tôm hùm ở Sông Cầu (Đắk Lắk) mùa này vắng thế. Chưa bao giờ hai nơi này lại nhiều ngôi nhà phải xây sửa đến thế, dù đang vào mùa mưa...

Phạm nhân T.T.T. chạy lại đỡ mẹ già trên sân khấu chương trình.

Thắp sáng những ước mơ hoàn lương

Phía sau mỗi bản án đều là một cuộc đời. Khi sai lầm được nhận thức đúng và đủ, khát vọng làm lại sẽ thay thế những gam mầu tối trong tâm tưởng mỗi con người. Nhờ những chính sách khoan hồng của Nhà nước, ngày về trong giấc mơ mỗi đêm của phạm nhân T.T.T. đã không còn xa.

Giờ học tại điểm trường Coọc Mu.

Coọc Mu ngày ấy và bây giờ

Từng là “ốc đảo” bị lãng quên giữa đại ngàn, nơi ấy hơn 20 năm về trước, hàng chục số phận bị căn bệnh phong quái ác hành hạ, thôn Coọc Mu, xã Hoàng Trĩ (tỉnh Bắc Kạn cũ), nay là xã Đồng Phúc (tỉnh Thái Nguyên) đã hồi sinh.

Anh Ngô Quý Đức (bên trái) kiểm tra quy trình tạo tác liễn làng Chuồn.

Hồi sinh liễn làng Chuồn

Nhắc đến làng Chuồn (tên chữ là An Truyền) thuộc phường Mỹ Thượng, thành phố Huế, người ta thường nghĩ ngay đến một nét đẹp văn hóa độc đáo mà nay đã thất truyền, đó là nghề làm liễn Tết thủ công. Bằng sự tận tâm, tỉ mỉ của những người yêu văn hóa, từng bức liễn làng Chuồn đã được hồi sinh.

Điều còn lại sau chiến tranh

Điều còn lại sau chiến tranh

Cuộc đời lặng lẽ trong chờ đợi của người lính cuối cùng Trung đội Mai Quốc Ca, nhắc chúng ta rằng, lịch sử không chỉ được làm nên bởi những khoảnh khắc rực rỡ, mà còn bởi những năm tháng rất dài sau đó.

Khoảnh khắc bà Nguyễn Thị Bích cười tươi khi đón di ảnh của người bạn đời.

Niềm vui ngày các Anh về

Gần 60 năm đã trôi qua, ba cô con gái cũng đều đã lên chức bà nội, bà ngoại, nhưng chưa ngày nào cụ bà Nguyễn Thị Bích nguôi nỗi nhớ người bạn đời của mình. Năm 1967, anh Bí thư Đoàn Thanh niên xã Nam Ninh, huyện Nam Trực (tỉnh Nam Định cũ) Đặng Xuân Đạo tình nguyện lên đường “vào B” đánh giặc rồi mãi mãi không trở về.

Kíp trắc thủ điều khiển tiểu đoàn 52, Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (từ ngoài vào trong: Trần Hay, trắc thủ phương vị; Hoàng Văn Nam, trắc thủ cự ly; Vương Thái Thanh, trắc thủ góc tà).

Khoảng im lặng sau chiến thắng

Thiếu tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Hoàng Văn Nam (nguyên sĩ quan điều khiển tên lửa, Tiểu đoàn 52, Trung đoàn 267, Sư đoàn Phòng không 365, Quân chủng Phòng không - Không quân) bảo lúc đi lính, ông muốn mình vào không quân, được thành phi công lái máy bay chiến đấu nhưng thị lực không đạt yêu cầu.

Người dân thôn Khuổi Cò thu hoạch quýt.

Đi giữa vùng quýt cổ

Khi những cơn gió bấc đầu tiên tràn về mang theo hơi lạnh của mùa đông thì cũng là lúc trên những triền đồi ở xã Bạch Thông, tỉnh Thái Nguyên lại ngập sắc vàng của những trái quýt giòn.

Những mùa nho Hạ Đen

Một đêm khó quên vào tháng 9/2024. Gió rít liên hồi, cuốn theo mưa như trút nước sau khi bão càn quét qua địa phận xã Nam Dương (tỉnh Bắc Ninh). Lũ ập đến, nhấn chìm vườn nho Hạ Đen rộng hàng nghìn mét vuông của vợ chồng chị Giáp Thị Tuyền.

Mỗi phiên chợ giao dịch hàng nghìn con trâu, bò với giá trị trên dưới 50 tỷ đồng.

Chợ trâu, bò giữa lưng trời

Khi sương mù còn đặc quánh, phủ trắng trên những mái nhà sàn, thì ở một thung lũng nhỏ nơi lưng chừng núi Nghiên Loan, nhịp sống đã hối hả. Đó là phiên chợ "đặc biệt" của cả khu vực miền núi phía bắc - Chợ trâu, bò Nghiên Loan (xã Nghiên Loan, Thái Nguyên).

Đoàn Thái Cúc Hương.

Thế giới cổ tích từ giấy dó

Một tâm hồn nghệ sĩ, một bàn tay khéo léo như nghệ nhân, những câu chuyện bất tận về văn hóa truyền thống và luôn khiêm tốn nhận mình là một thợ thủ công.

Nghệ nhân Nguyễn Phương Uyên tạo dáng cho bonsai mini.

Hơn cả một thú chơi

Nằm trên đường Tô Hiến Thành, phường Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi, ngôi nhà của ông Nguyễn Phương Uyên (54 tuổi) nổi bật hơn hẳn nhờ hàng chục chậu cây bonsai.

Thầy Nam cần mẫn với mô hình du lịch sinh thái. Ảnh: BẢO LONG

Từ bục giảng đến miền quả ngọt

Ở phường Chũ (tỉnh Bắc Ninh), có một người thầy giáo không chỉ truyền cảm hứng trên bục giảng, mà còn mang nhiệt huyết và sự sáng tạo của nghệ thuật để góp phần tạo nên một không gian du lịch xanh. Đó là thầy Đinh Phương Nam, thầy giáo dạy mỹ thuật theo đuổi mô hình du lịch nông nghiệp-sinh thái ở đồng bằng Bắc Bộ.

Tên lửa vác vai A72. Ảnh: Bảo tàng Phòng không - Không quân

Bí mật của 60 giây quyết định

“Có mấy năm thôi mà", Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Thoa nói thế khi chúng tôi hỏi về những ngày quân ngũ, vác trên vai chiếc tên lửa A72 và hạ gục bao nhiêu máy bay Mỹ - ngụy.

"Bố" Kiên và bé Di tại lớp học ở Cát Cát.

Mái ấm ở thung lũng Cát Cát

Tôi đến Cát Cát (phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai), bản làng người H'Mông được du khách ví như viên ngọc đẹp nhất Tây Bắc. Tiết trời trong nhưng sương mù vẫn đùn lên từ phía dưới thung lũng Ý Lình Hồ như những đụn bông trắng tinh.

Tại một địa điểm giao lưu của nhiều người yêu đĩa than tại Hà Nội.

Sống chậm với đĩa than trong thời đại số

Trong thời đại mà một thiết bị đeo tay có thể chứa đến 60 triệu bài hát, việc lựa chọn nghe nhạc từ một chiếc đĩa than tưởng như là lỗi thời. Nhưng thực tế, đó lại là biểu hiện của một xu thế tìm lại sự nguyên bản, chậm rãi và thật lòng trong trải nghiệm thưởng thức.

La Quốc Bảo đánh giá hiện trạng chiếc áo cưới hoàng gia triều Nguyễn vừa được sưu tầm từ Hà Lan.

Sợi tơ mong manh kết nối trăm năm

Khi nói đến sưu tầm đồ cổ ở Việt Nam, người ta thường nghe tới đồ gốm, sành sứ, hay đồ gỗ… chứ ít ai biết đến những món đồ vải mà qua đó thể hiện tay nghề thêu huy hoàng, vang danh thế giới của người Việt hàng trăm năm trước.

Nguyễn Ngọc Minh Trang kể chuyện di sản bằng logo.

Trang Faifo và hành trình kể chuyện di sản

Trang Faifo chính là Nguyễn Ngọc Minh Trang, 23 tuổi, một nhà thiết kế đồ họa trẻ với tư duy dám nghĩ, dám thể hiện cá tính cá nhân. Niềm đam mê văn hóa quê hương đã tạo bệ phóng cho cô tỏa sáng, mang bản sắc nghệ thuật Việt.

Dưới làn nước xanh này là hơn 20 căn nhà sàn của người dân Kim Vân. Ảnh: TÙNG VÂN

Ám ảnh ở “rốn ngập” Kim Vân

Kim Vân là thôn vùng lõi Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, thuộc xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên, nằm trong một "lòng chảo" lớn bao bọc bởi núi đá. Đất canh tác hạn chế, cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây muôn vàn khó khăn với hơn một nửa trong tổng số 112 hộ dân nghèo và cận nghèo.

Bác sĩ Nguyễn Văn Quốc Trí đang khám cho bệnh nhân.

Như mây trắng A Xan

Con đường ngoằn ngoèo vượt qua bao triền núi, vắt mình giữa những quầng mây trắng đưa chúng tôi đến xã Hùng Sơn (trước đây là các xã A Xan, Tr’Hy, Ga Ry, Ch’Ơm của tỉnh Quảng Nam) - vùng đất tận cùng phía tây thành phố Đà Nẵng giáp biên giới nước bạn Lào.

Bà Vàng Thị Sỏng trong căn bếp của người La Chí.

Triết lý của những người phụ nữ

Mỗi bận chồng đánh, Lý Tả Mẩy hay ra chợ Sa Pa ngồi khóc. Đánh lại chồng thì không đủ sức, bỏ thì không được vì lấy rồi thì ai lại bỏ, Mẩy nghĩ mình phải tự lập, nhưng Mẩy chưa biết làm gì. Nên Mẩy vừa mang đồ ra chợ bán, vừa ngồi khóc, vừa nghĩ.

Bà Nguyệt đi phát gạo cho người dân vùng ngập nước.

Ở nơi có những đùm bọc, sẻ chia

Một tâm trạng rất khó tả khi chúng tôi cùng với Đoàn thiện nguyện CLB Nhà báo nữ Việt Nam đi lên Thái Nguyên để đến Trung tâm Bảo trợ xã hội (TT BTXH) Hường Hà Nguyệt, nằm trên đất xã Đồng Hỷ. Gần như là bàng hoàng, thậm chí rớt nước mắt vì vẻ tiêu điều không tránh khỏi.