Tăng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội từ ngày 1/7/2026

Theo quy định mới của Chính phủ, từ ngày 1/7/2026, mức lương hưutrợ cấp bảo hiểm xã hộiđược tăng thêm 8%. Một số trường hợp có mức hưởng thấp sau khi tăng chung được nâng mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng lên 3,8 triệu đồng/tháng.

Chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người hưởng tại Gia Lai. (Ảnh GSS)
Chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người hưởng tại Gia Lai. (Ảnh GSS)

Ngày 15/5, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/2026/NĐ-CP điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Theo đó, từ ngày 1/7/2026, mức lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội sẽ tăng thêm 8%. Đặc biệt, Chính phủ nâng mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng lên 3,8 triệu đồng/tháng đối với một số trường hợp có mức hưởng thấp sau khi tăng chung.

Các đối tượng được tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội

Nghị định số 162/2026/NĐ-CP điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng đối với các đối tượng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng trước ngày 1/7/2026, bao gồm các nhóm đối tượng sau (dưới đây gọi tắt là nhóm đối tượng quy định tại điều khoản thứ nhất):

a) Cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, người nghỉ hưu từ Quỹ Bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An chuyển sang theo Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg về việc chuyển bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An sang bảo hiểm xã hội tự nguyện); quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.

b) Cán bộ xã, phường, thị trấn quy định tại Nghị định số 33/2023/NĐ-CP quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Nghị định số 34/2019/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và Nghị định số 09/1998/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng lương hưu, trợ cấp hằng tháng.

c) Người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng theo quy định của pháp luật; người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg về việc trợ cấp cho những người đã hết tuổi lao động tại thời điểm ngừng hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 6/5/2010 về việc trợ cấp hằng tháng cho những người có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm công tác thực tế đã hết thời hạn hưởng trợ cấp mất sức lao động; công nhân cao-su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206-CP ngày 30/5/1979 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với công nhân mới giải phóng làm nghề nặng nhọc, có hại sức khỏe nay già yếu phải thôi việc.

d) Cán bộ xã, phường, thị trấn đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 130-CP ngày 20/6/1975 của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã và Quyết định số 111-HĐBT ngày 13/10/1981 của Hội đồng Bộ trưởng về việc sửa đổi, bổ sung một số chính sách, chế độ đối với cán bộ xã, phường.

đ) Quân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 142/2008/QĐ-TTg về thực hiện chế độ đối với quân nhân tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước có dưới 20 năm công tác trong quân đội đã phục viên, xuất ngũ về địa phương, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 38/2010/QĐ-TTg và Quyết định số 22/2025/QĐ-TTg.

e) Công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 53/2010/QĐ-TTg quy định về chế độ đối với cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân tham gia kháng chiến chống Mỹ có dưới 20 năm công tác trong Công an nhân dân đã thôi việc, xuất ngũ về địa phương.

g) Quân nhân, công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg về chế độ, chính sách đối với đối tượng tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định số 22/2025/QĐ-TTg.

h) Người đang hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hằng tháng.

i) Người đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo quy định tại Điều 23 của Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.

Các đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g nêu trên nghỉ hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng trước ngày 1/1/1995 (bao gồm những người đã nghỉ hưởng trợ cấp mất sức lao động trước ngày 1/1/1995, sau đó được tiếp tục hưởng trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 613/QĐ-TTg), sau khi thực hiện điều chỉnh có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng (dưới đây gọi tắt là nhóm đối tượng quy định tại điều khoản thứ hai).

Tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng lên 3,8 triệu đồng/tháng với một số trường hợp có mức hưởng thấp

Nghị định cũng nêu rõ, từ ngày 1/7/2026, điều chỉnh tăng thêm 8% trên mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2026 đối với nhóm đối tượng quy định tại điều khoản thứ nhất.

Từ ngày 1/7/2026, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng cho nhóm đối tượng quy định tại điều khoản thứ hai, sau khi điều chỉnh, có mức hưởng thấp hơn 3.800.000 đồng/tháng thì được điều chỉnh như sau:

Tăng thêm 300.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức hưởng bằng hoặc thấp hơn 3.500.000 đồng/người/tháng;

Tăng lên bằng 3.800.000 đồng/người/tháng đối với những người có mức hưởng cao hơn 3.500.000 đồng/người/tháng nhưng thấp hơn 3.800.000 đồng/người/tháng.

Mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng sau khi điều chỉnh nêu trên là căn cứ để tính điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng ở những lần điều chỉnh tiếp theo.

Hiện nay, trên cả nước đang có hơn 3,5 triệu người đang được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Bộ Nội vụ cho biết, lần gần nhất Chính phủ thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng là ngày 1/7/2024 theo quy định tại Nghị định số 75/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ.

Theo số liệu của cơ quan bảo hiểm xã hội, số người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng được điều chỉnh vào thời điểm đó là hơn 3,12 triệu người, Kinh phí tăng thêm (6 tháng của năm 2024) để thực hiện việc điều chỉnh là 16.786 tỷ đồng.

Có thể bạn quan tâm

Từng bước mở rộng phạm vi chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế đối với một số dịch vụ phòng bệnh, dinh dưỡng, quản lý bệnh mãn tính, khám sức khỏe định kỳ. (Ảnh: ĐỖ THOA)

Mở rộng phạm vi chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế đối với một số dịch vụ y tế, khám sức khỏe

Từ năm 2026, từng bước tăng tỷ lệ, mức thanh toán cho phòng bệnh, chẩn đoán, điều trị sớm một số bệnh và đối tượng ưu tiên phù hợp lộ trình tăng mức đóng, khả năng cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế. Trong đó, mở rộng phạm vi chi trả đối với dịch vụ phòng bệnh, dinh dưỡng, quản lý bệnh mạn tính, khám sức khỏe định kỳ.

Một góc quang cảnh hội nghị.

Tăng cường công tác tuyên truyền chính sách và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân

Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh và Bảo hiểm xã hội thành phố đặt mục tiêu mỗi năm vận động, phát triển ít nhất 840 hội viên phụ nữ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; đồng thời, phấn đấu tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt từ 95% trở lên vào năm 2026 và hướng tới bao phủ toàn dân vào năm 2030.

Lễ ra quân tuyên truyền, vận động người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế hộ gia đình, hưởng ứng Tháng vận động triển khai bảo hiểm xã hội toàn dân năm 2026.

Cần Thơ lan tỏa chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế toàn dân

Thời gian qua, với sự quan tâm chỉ đạo của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố cùng sự phối hợp đồng bộ của các cấp, ngành và địa phương, Bảo hiểm xã hội Cần Thơ đã từng bước lan tỏa phát triển đối tượng, công tác phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố đã đạt nhiều kết quả tích cực.

Khám tầm soát, lấy máu xét nghiệm tiểu đường cho người dân. (Ảnh: Bệnh viện Nội tiết Trung ương)

Quỹ Bảo hiểm y tế chi trả cho hơn 3,3 triệu bệnh nhân đái tháo đường

Quỹ Bảo hiểm y tế hiện đang chi trả cho khoảng 7,98 triệu người tăng huyết áp, hơn 400 nghìn trường hợp can thiệp tim mạch, hơn 3,3 triệu người mắc đái tháo đường. Trong năm 2025, các bệnh không lây nhiễm ghi nhận khoảng 51 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, với tổng chi phí thanh toán lên tới 19,85 nghìn tỷ đồng. 

Cán bộ Trạm Y tế phường Đống Đa, Hà Nội khám sức khỏe cho người dân hưởng ứng Ngày Sức khỏe toàn dân 7/4 năm 2026. (Ảnh nhandan.vn)

Quý I/2026: Hơn 7.100 tỷ đồng chi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Hà Nội

Trong 3 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn Hà Nội có hơn 3,2 triệu lượt khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, với chi phí hơn 7.100 tỷ đồng. Bảo hiểm xã hội Hà Nội đã tăng cường các giải pháp kiểm soát chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế thông qua phân tích dữ liệu, kiểm tra, giám sát, kịp thời chấn chỉnh các nội dung bất hợp lý.

Bảo hiểm xã hội Hà Nội phát động Tháng vận động, triển khai bảo hiểm xã hội toàn dân năm 2025, tháng 5/2025. (Ảnh HSS)

Tháng vận động bảo hiểm xã hội toàn dân 2026 với chủ đề “Điểm tựa an sinh trọn đời”

Tháng cao điểm tuyên truyền, phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế năm 2026 có chủ đề “Bảo hiểm xã hội - điểm tựa an sinh trọn đời”. Lễ phát động và ra quân hưởng ứng Tháng vận động, triển khai bảo hiểm xã hội toàn dân sẽ tổ chức đồng loạt vào đầu tháng 5/2026.

Các khách mời tham gia chương trình giao lưu trực tuyến. (Ảnh HSS)

Giải đáp trực tuyến về chế độ thai sản và ốm đau cho người lao động

Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định một số điểm mới về chế độ thai sản và ốm đau. Sự chủ động của cơ quan Bảo hiểm xã hội trong hướng dẫn hồ sơ, thủ tục, đồng thời tháo gỡ các vướng mắc phát sinh về hai chế độ này hết sức cần thiết, tạo điều kiện thuận lợi tối đa và bảo đảm người lao động được thụ hưởng đầy đủ quyền lợi.