Sau cuộc rong ruổi của những người ly hương

Ngược dòng thời gian về những năm 2000, ngư dân nghèo vùng sông nước An Giang dắt díu nhau lên Tây Nguyên làm thuê. Trong những ngày tháng rong ruổi đầy gian truân ấy, họ vô tình tìm thấy lòng hồ thủy điện Sê San 4. Mặt nước mênh mông, tĩnh lặng như đánh thức bản năng sông nước của những người con sinh ra từ dòng sông Hậu.

Làng chài Sê San.
Làng chài Sê San.

Anh Đặng Văn Thân, một người gắn bó với làng chài từ những ngày đầu, bùi ngùi kể lại. Cha tôi thăm dò mặt nước và về quê đưa má tôi lên đây, mang theo cả những tay lưới đánh cá. Thấy cá nhiều, lại bán được giá cho bà con trồng cà-phê, cao su trên này... thế là ba tôi quyết định về quê thuyết phục thêm vài người nữa. Tôi cũng theo ba lên đây. Chúng tôi gá lại ruộng vườn, nhà cửa dưới quê. Dù tài sản chẳng có bao nhiêu nhưng cũng đủ chút vốn liếng để cất bè, làm nhà nổi ở trên lòng hồ. Cứ thế, từng chiếc ghe, chiếc bè nổi mọc lên. Lòng hồ Sê San 4 dần trở thành quê hương thứ hai của những người con ly hương.

Trước năm 2015, cuộc sống của 29 hộ dân nơi đây (thôn 7, xã Ia Tơi, tỉnh Quảng Ngãi), vô cùng bấp bênh. Họ sống tạm bợ trên những chiếc bè nổi, không hộ khẩu, không giấy tờ tùy thân. Thế nhưng, dù cuộc sống có ngặt nghèo đến đâu, họ vẫn giữ vẹn nguyên cái “gốc” miền Tây của mình.

Giữa đại ngàn đầy gió, người ta vẫn nghe văng vẳng giọng hò bánh bò Nam Bộ ngọt ngào, những trích đoạn cải lương da diết hay những bản nhạc bolero trầm buồn vang lên từ các gian nhà nổi. Không chỉ mang theo tiếng hát, họ còn mang theo cả hương vị miệt vườn. Mùi mắm cá chốt, mắm cá trèn đặc trưng An Giang bay lên theo khói bếp mỗi buổi chiều tà. Những món ăn mang đậm hồn cốt quê nhà như cá cơm khô kết tròn xoe như chiếc bánh tráng, hay món khô cá lóc đậm đà, trở thành món quà đặc sản mà họ trân quý mời gọi khách phương xa. Họ sống giữa Tây Nguyên, nhưng linh hồn và văn hóa vẫn vị phù sa sông nước.

Nhận thấy cuộc sống của người dân làng chài như một mảnh ghép văn hóa độc đáo nhưng đầy gian truân, chính quyền địa phương đã không bỏ họ lại phía sau. Với chủ trương nhân văn, UBND tỉnh Kon Tum (cũ) đã cho phép chính quyền địa phương công nhận và nhập hộ khẩu chính thức cho 29 hộ dân làng chài. Mỗi hộ dân được tạm giao 400 m² đất ở trên bờ và hỗ trợ 50 triệu đồng để xây dựng nhà cửa kiên cố. Trẻ em, những đứa trẻ bao năm chỉ biết quẩn quanh trên mạn thuyền, được cắp sách đến trường, được nhận học bổng. Người dân được cấp thẻ bảo hiểm y tế, hưởng đầy đủ các chính sách an sinh xã hội dành cho hộ nghèo, cận nghèo. Từ thân phận ba không, họ đã trở thành những công dân chính thức, có một mái nhà đúng nghĩa để đi về.

Giờ đây, làng chài miền Tây trên hồ thủy điện Sê San 4 không chỉ là nơi an cư lạc nghiệp của những người dân An Giang năm nào, mà đã trở thành một điểm nhấn du lịch mới mẻ, một điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch của tỉnh Quảng Ngãi. Ánh mắt anh Đặng Văn Thân lấp lánh niềm vui khi nói về cuộc sống hiện tại: Ở đây chúng tôi vẫn được làm nghề cũ trên sông nước mà còn được chính quyền tạo điều kiện về mọi mặt. Giờ đây chúng tôi không còn cảm thấy lẻ loi nữa, vì ngày nào cũng được gặp nhiều đoàn khách du lịch ghé thăm làng chài...

Sự xuất hiện của du khách mang đến luồng sinh khí mới. Người dân có thêm thu nhập từ việc bán cá tươi, cá khô và chở khách tham quan lòng hồ. Những chiếc nhà nổi nay được dọn dẹp sạch sẽ, tươm tất để đón khách. Hành trình từ dòng sông Hậu đến lòng hồ Sê San là sức sống bền bỉ của người dân miền Tây. Trên vùng đất Tây Nguyên lộng gió, tình đất và tình người đã hòa quyện, tràn ngập tiếng cười.

Có thể bạn quan tâm

Củi thông đun bếp.

Lửa thông

Gió từ núi đi ngang ngôi nhà ngai ngái mùi gỗ giữa những vườn rau mãn vụ.

Minh họa: HOÀNG NGUYÊN THẠCH

Mầm cây đợi

Con đường độc đạo từ bản đến trường ướt nhấm nhoét. Đất đá tở ra từng tảng, thi thoảng có những hộc đá lăn xuống chặn ngang đường. 

Sống đời phu cơm

Quốc Anh, 40 tuổi, mỗi sáng ra khỏi nhà cùng một chiếc điện thoại sạc đầy, một bình nước lọc, cái áo khoác bạc màu vì nắng, và chiếc hộp đựng đồ ăn vuông vức treo trước xe như hòm thuốc của một ông lang. Anh không chữa bệnh. Anh chữa đói. Mà đói ở phố bây giờ là thứ bệnh cấp tính, phát lên rất nhanh, đòi cấp cứu trong 15 phút.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Drama mang tên thanh xuân

Hoan đến chỗ hẹn sớm 10 phút. Khoảng thời gian đó đủ để tâm trạng bình ổn. Bởi vì người hẹn cô hôm nay là anh. Người của một thời tha thiết. Người mà cô đã hơn 20 năm không gặp, thậm chí hoàn toàn bặt tin.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những ngã ba đời

Tôi tới căn nhà anh thuê ngay đầu phố Lý Nam Đế (Hà Nội) bởi một sự tình cờ. Ngồi lại lai rai vài ly cũng chẳng phải có hẹn mà nên. Nhưng tôi cứ nhớ mãi cái khung hình có dòng chữ mà một lãnh đạo của Đảng, Nhà nước viết tặng anh “ai cũng có rất nhiều chỗ để đi, nhưng chỉ có một chốn để trở về”.

Minh họa: NGUYỄN VÂN CHUNG

Những màu áo cũ

Nông thôn nơi Hân sống hãy còn rất nhiều người nghèo, cái ăn cái mặc, sự học hành con trẻ lắm khi quá sức với cha mẹ của chúng. Chưa kể nếu những bậc cha mẹ trẻ ấy còn sống chung gia đình lớn, còn cha mẹ già đau yếu bệnh tật thì đồng lương công nhân, làm thuê, cắt cỏ, xịt thuốc… sẽ không bao giờ đủ.

Nhớ phiên chợ Mộc

Nhớ phiên chợ Mộc

Ở xã Nghi Thái, huyện Nghi Lộc cũ (nay là phường Vinh Lộc, Nghệ An) quê tôi, cạnh gốc đa cổ thụ và cái nền đình xưa của làng là ngôi chợ mang tên chợ Mộc. Chợ Mộc làng tôi to lắm, “to” chứ không phải “lớn” đâu nhé.

Vá lưới. Ảnh: NAM NGUYỄN

Gió ở lại lòng người

Tôi đến Phú Hài, một làng chài ven biển của Phan Thiết, vào buổi sớm khi gió còn mềm. Biển khi ấy lặng, như vừa thức giấc sau một đêm dài. Không có những sắc màu rực rỡ hay ồn ào của một điểm đến du lịch, Phú Hài mở ra bằng nhịp sống chậm rãi, đủ để người mới ghé qua kịp nhận ra sự bình yên của làng.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Tình yêu của mẹ

Ở ngoại ô thành phố có một bà cụ đã mất. Chồng bà là một công nhân 70 tuổi đã nghỉ hưu. Cụ ông đến bưu điện để gửi sáu bức điện tín đến các vùng khác nhau của nước cộng hòa, tất cả đều có chung một nội dung: “Mẹ mất rồi các con về đi! Bố”.

Giàn mướp. Ảnh: SONG ANH

Nhớ mùa hoa mướp vàng

Khi cái nắng đầu hè rực lên ánh ỏi thì giàn mướp trước sân nhà tôi cũng nở hoa vàng rực. Từng đốm hoa thắp nắng giữa giàn lá xanh um, bầy ong dập dìu bay qua bay lại.

Thả lưới. Ảnh: SONG ANH

Mênh mang sông Đầm

Chiếc ghe đưa chúng tôi rời khỏi bến sông Đầm trong cái nắng đầu ngày. Chú Ba, người đồng hành cùng nhóm đã sống ở xứ này hơn sáu mươi năm.

Mưa dông. Ảnh: SONG ANH

Những cơn dông

Không hiểu sao, từ nhỏ đến giờ, tôi rất thích ngắm nhìn những cơn dông kéo đến trước mỗi trận mưa. Với tôi, đó là một khoảnh khắc kỳ diệu của thiên nhiên vũ trụ.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

3 triệu đồng

Gã trở nhà mới gần 10 giờ đêm. Trời oi nồng, vài hạt mưa lắc rắc càng làm tăng sức nóng. Trong con hẻm cụt không còn bóng người, gió yếu ớt chẳng rơi nổi chiếc lá, tưởng như màn đêm đã chìm sâu từ kiếp nào.

Dòng sông miền Tây. Ảnh: NAM NGUYỄN

Dòng sông không địa chỉ...

Trong hành trình rong ruổi của mình, có dòng sông tôi ghé lại chỉ để... thương một người. Với tôi, dòng sông Cái Lớn và chú Nguyễn Văn Lúa (cù lao Tắc Cậu, xã Châu Thành (Kiên Giang cũ), nay là An Giang) là một ký ức như thế.

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.