Nghị quyết phải được chuyển hóa tức thì thành hành động thực tiễn

Đại hội XIV của Đảng - dấu mốc mở ra kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc, đã thành công rất tốt đẹp. Vấn đề mang tính sống còn hiện nay là làm thế nào để Nghị quyết của sự kiện chính trị trọng đại này không còn “nằm trên giấy”, mà phải trở thành luồng sinh khí mạnh mẽ, chuyển hóa tức thì thành hành động thực tiễn.

GS,TS Phùng Hữu Phú, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương
GS,TS Phùng Hữu Phú, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương

Đó là quan điểm mà GS,TS Phùng Hữu Phú, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, đã nêu ra khi trao đổi với Nhân Dân cuối tuần về vấn đề này.

Dũng cảm, quyết liệt, loại bỏ sự trì trệ

Thưa Giáo sư, có quan điểm cho rằng Đại hội XIV lại được coi là thời điểm “vàng” để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, ông nghĩ sao về vấn đề này? Và theo ông, đâu là sự khác biệt về tinh thần chủ đạo trong các văn kiện Đại hội XIV so trước đây?

Thực tế minh chứng, Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử. Bối cảnh quốc tế hiện nay không cho phép chúng ta chậm trễ. Sự bùng nổ của kinh tế tri thức và cuộc cách mạng số, cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các nước để xác lập vị thế trong trật tự thế giới… đang tái định hình sức mạnh quốc gia. Nếu không vươn mình ngay lúc này, chúng ta sẽ lỡ nhịp, mãi mãi tụt lại ở phía sau.

Thêm nữa, sau 40 năm Đổi mới, song hành với những thành tựu vĩ đại, đất nước ta vẫn còn nhiều khó khăn cần vượt qua, nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ. Yêu cầu cấp bách hiện nay là phải “đột phá kép”, vừa thúc đẩy phát triển bứt phá, lấy phát triển để khắc phục hạn chế một cách tích cực; vừa kiên quyết giải quyết các điểm nghẽn để thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững. Đó là tư duy biện chứng ở thời điểm vàng: Biện chứng “biến nguy thành cơ, lấy cơ vượt nguy”, vốn là phép biện chứng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, biện chứng trong khoa học, nghệ thuật lãnh đạo cách mạng của Đảng ta.

Điểm khác biệt lớn nhất trong tinh thần của Đại hội XIV, dưới sự chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm, chính là sự chuyển dịch từ tư duy “quản lý ổn định” sang tư duy “kiến tạo phát triển”, từ “đổi mới, ổn định, phát triển” sang “đổi mới sáng tạo, ổn định tích cực, phát triển đột phá”.

Thực tế, các văn kiện và Nghị quyết Đại hội lần này không chỉ dừng lại ở việc xác định những mục tiêu định tính, mà là sự khẳng định mạnh mẽ về ý chí tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường bằng những mục tiêu định lượng, có thể đo đếm được.

Chúng ta không chỉ thuận theo dòng chảy thế giới, mà chủ động tạo ra động lực để bứt phá. Tinh thần của Tổng Bí thư là “nhìn thẳng vào hiện thực, đánh giá đúng tình hình, quyết tâm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế”.

Đó là một thái độ dũng cảm, quyết liệt, loại bỏ sự trì trệ để hướng tới những mục tiêu cụ thể cho các dấu mốc quan trọng: năm 2030 và 2045.

Một trong những “điểm nghẽn” kinh niên mà dư luận thường nhắc tới là “Nghị quyết thì hay, nhưng thực hiện thì chậm”. Tại Đại hội XIV vừa diễn ra, Chương trình hành động được tích hợp trực tiếp và là một trong các văn kiện trình Đại hội. Ông đánh giá thế nào về sự thay đổi mang tính cách mạng này?

Đây chính là điều tôi trăn trở nhất! Nhiều nhiệm kỳ qua, chúng ta đã rút ra bài học đau xót: Nghị quyết đúng nhưng thực thi thiếu động lực, thiếu nguồn lực, khó đo lường kết quả, thiếu đánh giá trách nhiệm, dẫn đến hiệu quả thấp.

Lần này, Đảng ta thực hiện một đổi mới mang tính đột phá: “Nói” gắn liền với “làm”, nói ít làm nhiều, mục tiêu gắn chặt với điều kiện, trách nhiệm thực thi, với kết quả cụ thể đạt được.

Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV tích hợp đầy đủ các yếu tố: Giải pháp cụ thể, chủ thể thực hiện, lộ trình, nguồn lực và đích đến... đã biến Văn kiện quan trọng này từ một tài liệu lý luận mang tính định hướng “tĩnh” trở thành một cẩm nang hành động “động”. Nó không cho phép bất kỳ cấp ủy hay cá nhân lãnh đạo nào có thể thoái thác bằng cách nói chung chung, dựa dẫm, nói mà không làm, nói một đằng, làm một nẻo. Người lãnh đạo không thể chỉ hô hào khẩu hiệu mà phải trực tiếp chỉ huy, phải suy nghĩ, sáng tạo, và phải chỉ ra được: Nguồn vốn ở đâu? Nhân lực ở đâu? Bao giờ xong? Ai là người chịu trách nhiệm?

Và quan trọng hàng đầu, cấp ủy, lãnh đạo phải là người đi đầu và là người chịu trách nhiệm trước hết đối với mọi thành công hay thất bại. Đây chính là hạt nhân của cách mạng về đổi mới phương thức lãnh đạo.

tn3.jpg
Với tinh thần dân chủ rất cao, ngay từ khi xây dựng dự thảo văn kiện Đại hội XIV, đông đảo các tầng lớp nhân dân đã tham gia đóng góp ý kiến hướng tới mục tiêu phát triển đột phá trong tương lai. (Nguồn: QĐND)

Đổi mới tư duy, hành động quản trị quốc gia

Thưa Giáo sư, để đưa Nghị quyết vào cuộc sống khẩn trương, vấn đề “thể chế” và “cán bộ” vẫn luôn là chìa khóa. Theo ông, đâu là những giải pháp cần được triển khai quyết liệt ngay sau Đại hội?

Tôi cho rằng có hai việc phải làm ngay và làm quyết liệt. Thứ nhất là đột phá về thể chế. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhắc đi nhắc lại yêu cầu phải hoàn thiện thể chế để kiến tạo động lực tăng trưởng mới. Chúng ta cần rà soát tổng thể, đồng bộ hệ thống pháp luật, khắc phục cách làm đơn lẻ, cục bộ, mạnh dạn bãi bỏ những quy định lỗi thời, chồng chéo, đang kìm hãm sức sáng tạo. Thể chế phải là “đường băng”, là khởi nguồn động lực cho doanh nghiệp cất cánh, chứ không phải là “hàng rào” để quản lý, phòng ngừa hay ngăn trở người dân.

Thứ hai là công tác cán bộ. Đưa nghị quyết vào cuộc sống trước hết cần những cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám đổi mới. Chúng ta cần thực thi nghiêm minh một hệ thống tiêu chí cụ thể đánh giá chính xác trách nhiệm, đo lường được hiệu quả làm việc của cán bộ. Đặc biệt, phải bảo vệ những cán bộ vì lợi ích chung mà bứt phá và kiên quyết thay thế những cán bộ nói hay làm dở hoặc loại cán bộ vô thưởng vô phạt. Nếu hệ thống bộ máy và quy trình công việc vẫn vận hành theo kiểu “ai không làm thì không sai, không sao”, thì Nghị quyết Đại hội XIV dù hay đến mấy cũng sẽ chỉ nằm trên giấy.

Tinh thần “thần tốc”, “táo bạo”, “quyết liệt” phải bắt đầu và nhất quán từ cán bộ - đây chính là thước đo đầu tiên mức độ đổi mới tư duy, hành động quản trị quốc gia từ Trung ương đến cơ sở.

Vững một niềm tin kiên định

Trong các bài viết của mình, Tổng Bí thư Tô Lâm luôn nhấn mạnh vai trò của nhân dân. Giáo sư có thể phân tích rõ hơn về nguyên tắc “Dân thụ hưởng” được đề cập trong Nghị quyết Đại hội XIV?

“Dân là gốc!”, đó là nguyên lý vĩnh cửu. Nhưng ở Đại hội XIV, vai trò của nhân dân được nâng tầm ở một vị thế chủ động hơn. Quy trình xây dựng văn kiện lần này đã tiếp thu hơn 14 triệu ý kiến từ nhân dân, đó là một con số kỷ lục, thể hiện tâm huyết, trách nhiệm của nhân dân và sự tôn trọng thật sự của Đảng đối với trí tuệ toàn dân.

Khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” lần này không chỉ là văn chương, mà là mục tiêu, nguyên tắc triển khai chính sách. Đặc biệt, hai chữ “thụ hưởng” phải là thước đo cuối cùng. Mọi con số tăng trưởng GDP hay các công trình nghìn tỷ sẽ trở nên vô nghĩa nếu chất lượng cuộc sống của người dân không được nâng cao, nếu công bằng xã hội không được bảo đảm.

Nghị quyết chỉ thật sự sống và có ý nghĩa khi người dân thấy mình trong đó, thấy vai trò làm chủ, nguyện vọng, quyền lợi chính đáng của mình, gia đình mình được tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm.

Để gửi gắm một thông điệp về niềm tin và hành động trước thềm kỷ nguyên mới, Giáo sư sẽ nói điều gì?

Chúng ta phải vững tin - một niềm tin kiên định vào khoa học, vào con đường mình đã chọn, bởi thực tế lịch sử 95 năm qua đã chứng minh tính đúng đắn của độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, niềm tin phải luôn luôn được củng cố, bồi đắp bằng sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự tận tụy, gương mẫu của cán bộ, đảng viên.

Tôi chỉ có một mong muốn giản dị: Đảng ta, cán bộ, đảng viên ta phải khắc cốt ghi tâm và thực hiện cho được những lời dạy của Bác Hồ muôn vàn kính yêu: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”; “… mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân ”.

Đây chính là cội nguồn sức mạnh vô địch, là bí quyết thành công của sự nghiệp vĩ đại kiến tạo kỷ nguyên hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của đất nước ta, dân tộc Việt Nam ta.

Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Nhân dân tin Đảng, hết lòng ủng hộ, làm theo Đảng khi Đảng thật sự là của nhân dân, là “Đảng ta” trong lòng dân. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sự đồng thuận xã hội là yếu tố quyết định sự thành bại của công cuộc kiến tạo kỷ nguyên mới”.

Có thể bạn quan tâm

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.