Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)
Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Vươn lên về nhất từ… con số 0!

Đường sắt tốc độ cao ở Trung Quốc khởi đầu khá muộn. Những năm 90 của thế kỷ trước, khi các nước phát triển như: Đức, Pháp, Nhật Bản đã có trong tay những tuyến đường sắt tốc độ cao hiện đại, thì hệ thống đường sắt Trung Quốc đang ở giai đoạn ban đầu của quá trình “tăng tốc”, những tuyến “tàu nhanh” cũng chỉ có vận tốc lên đến vài chục km/giờ. Với một quốc gia có lãnh thổ rộng lớn và sự dịch chuyển dân cư mạnh mẽ như Trung Quốc, nhu cầu về giao thông vận tải tốc độ cao trở nên vô cùng cấp thiết. Cũng từ đó, Trung Quốc đã chính thức khởi động chương trình nhập khẩu, hấp thụ và tự chủ đổi mới công nghệ đường sắt tốc độ cao với phương châm “nhập khẩu công nghệ, song hành cùng tự thiết kế sản xuất, xây dựng”.

Khởi động từ xuất phát điểm gần như bằng 0, với quyết tâm rất lớn, năm 2004, Trung Quốc phê duyệt Quy hoạch mạng lưới đường sắt trung và dài hạn đầu tiên, đề ra ý tưởng về mạng lưới “bốn dọc, bốn ngang”, đến bản Quy hoạch năm 2016, quốc gia này chính thức xác lập mạng lưới đường sắt tốc độ cao “tám dọc, tám ngang”… Và chỉ trong vòng 20 năm, đến cuối năm 2025, mạng lưới đường sắt tốc độ cao ở Trung Quốc có tổng chiều dài vận hành hơn 50.000km, chiếm hơn 70% tổng chiều dài đường sắt cao tốc toàn cầu, với năng lực chuyên chở hành khách lên đến 16 triệu lượt/ngày…

Hiện, Trung Quốc đã sở hữu mạng lưới đường sắt tốc độ cao vận hành dài nhất, quy mô xây dựng lớn nhất, tốc độ vận hành thương mại cao nhất, công nghệ toàn diện nhất và kịch bản vận hành đa dạng nhất thế giới. Công nghệ của Trung Quốc đã đạt đến trình độ tiên tiến của thế giới, với một số lĩnh vực đạt đến mức dẫn đầu thế giới. Thành công của quốc gia này sẽ còn được nối dài khi Trung Quốc tiếp tục hướng tới mục tiêu nâng tổng chiều dài vận hành lên 60.000 km vào năm 2030.

Kiên định với “chủ nghĩa dài hạn”

Theo nhận định của giới phân tích, thành tích ngoạn mục kể trên có được là nhờ Trung Quốc sớm nhận thức được vai trò, vị trí hết sức quan trọng của loại hình giao thông vận tải này trong phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, Trung Quốc mạnh dạn đầu tư lớn cho tất cả các khâu từ xây dựng quy hoạch; nghiên cứu, tiến tới tự chủ công nghệ; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn; phát triển hệ thống dịch vụ liên quan vận tải hành khách hiện đại, thông minh...

Trong đó, lập quy hoạch được coi là một trong những bí quyết thành công của Trung Quốc khi phát triển đường sắt tốc độ cao. Kiên định với “chủ nghĩa dài hạn”, các nhà hoạch định chính sách của Trung Quốc đã quyết định khởi động với tiền đề là việc lập quy hoạch trung và dài hạn mạng lưới dựa trên các cơ sở khảo sát, nghiên cứu thực tế cả trong và ngoài nước.

Theo ông Ngụy Tế Cương, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu kinh tế thị trường thuộc Trung tâm nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện, đến nay, dù đã trải qua ba bản quy hoạch mạng lưới đường sắt trung và dài hạn (năm 2004, 2008, 2016), Trung Quốc vẫn nhất quán với các mục tiêu, lộ trình đã được vạch ra trước đó. Đặc biệt, căn cứ trên thực tế, Trung Quốc đưa vào các Quy hoạch 5 năm, đầu tư với quy mô lớn, tạo nên tính liên tục của chính sách và dòng vốn bền vững. Đây là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển của đường sắt tốc độ cao ở Trung Quốc.

Một yếu tố quan trọng khác đã làm nên kỳ tích của Trung Quốc chính là quan điểm nhất quán về sự tự chủ và đổi mới công nghệ. Tập đoàn Đường sắt quốc gia Trung Quốc đã chủ trì, thành lập Liên minh Đổi mới công nghệ đường sắt, với sự tham gia của các trường đại học, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu trong toàn chuỗi ngành nghề, đặt mục tiêu tự chủ các công nghệ lõi, quan trọng; làm chủ các công nghệ thiết bị kỹ thuật, xây dựng công trình và quản lý vận hành; hình thành nên một hệ thống thiết bị và công nghệ đường sắt tốc độ cao hoàn chỉnh mang bản sắc Trung Quốc và quyền sở hữu trí tuệ tự chủ toàn diện.

Tạo thêm động lực cho mục tiêu tăng trưởng cao

Trước việc Việt Nam quyết định đầu tư xây dựng các tuyến đường sắt tốc độ cao, truyền thông và các chuyên gia Trung Quốc dành sự quan tâm cao, có nhiều bài phân tích, đánh giá, phần lớn khẳng định tính cần thiết của việc xây dựng tuyến đường sắt có ý nghĩa “xương sống” đối với sự phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam, cũng như việc kết nối mạng lưới đường sắt khu vực và thế giới.

Giáo sư Triệu Vệ Hoa (Đại học Phúc Đán, Trung Quốc) phân tích, với địa hình đặc thù trải dài từ bắc xuống nam, việc đầu tư xây dựng một tuyến đường sắt chính, từ đó phát triển tuyến phụ kết nối các địa phương là một cách làm phù hợp. Tuy nhiên, Việt Nam cần cân nhắc bảo đảm tính thiết thực, hiệu quả khi huy động nguồn lực, lựa chọn công nghệ và khai thác, vận hành…

Theo Giáo sư Triệu Vệ Hoa, việc xây dựng đường sắt tốc độ cao của Việt Nam cần đặt trong tổng thể kết nối đường sắt Việt Nam-Trung Quốc, hiện thực hóa nhận thức chung của các nhà lãnh đạo hai nước, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của người dân. Các tuyến đường sắt của Việt Nam có thể kết nối với tuyến đường trên bộ và trên biển mới phía Tây của Trung Quốc và các tuyến tàu liên vận qua Trung Quốc kết nối với châu Âu, để hình thành liên kết kinh tế giữa hai nước với khu vực Trung Á và châu Âu, góp phần nâng kim ngạch thương mại, tạo thêm động lực cho mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế Việt Nam ■​

Có thể bạn quan tâm

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.

Chuyển dịch xanh đang mở ra cơ hội để nông sản Việt Nam tái định vị trên thị trường quốc tế. (Trong ảnh: Trồng sầu riêng cho năng suất cao ở xã Trường Long, TP Cần Thơ). (Ảnh Phương Bằng)

Tháo gỡ nút thắt vốn và đầu tư

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, biến động thị trường khó đoán định, đòi hỏi từ người tiêu dùng cũng cao hơn, nông nghiệp Việt Nam đứng trước yêu cầu phải chuyển dịch xanh, nâng cao giá trị.

TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Tối ưu hóa công cụ chính sách, khơi thông nguồn lực công-tư

Phát triển các công cụ chính sách mới, dựa vào cơ chế thị trường để huy động sự tham gia của toàn xã hội trong phát triển nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường là điều TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh trong cuộc trò chuyện với NDCT.

Cần thúc đẩy mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước-Viện nghiên cứu-Doanh nghiệp-Nông dân) theo chuỗi giá trị. (Ảnh Đạt Thành)

Doanh nghiệp tiên phong nắm lợi thế

Thể chế và hệ sinh thái về chuyển đổi số - xanh của Việt Nam vẫn chưa hoàn thiện cũng như chưa đủ mạnh để phát triển trên diện rộng. Để hóa giải tình trạng này, cần đồng bộ quá trình hoàn thiện thể chế và tài chính xanh, đi đôi hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi, phát triển hạ tầng số.

Các hợp tác xã, tổ hợp tác, thông qua Chương trình FFF có nhiều cơ hội giao lưu, trao đổi để phát triển. (Ảnh FAO Việt Nam)

Ươm mầm sinh kế

Từ những mảnh vườn nhỏ ở Lào Cai, Thái Nguyên hay Phú Thọ, một mô hình mới đang dần hình thành: Nông nghiệp gắn với rừng, với thị trường, với cộng đồng và với tương lai dài hạn.

Bảy mô hình Đề án 1 triệu ha lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận năng suất đều tăng, nâng cao thu nhập cho nông dân từ 4-7,6 triệu đồng/ha. (Ảnh Lê Phương)

Bài toán nâng tầm giá trị hạt gạo

Lúa phát thải thấp giúp nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, nhưng đồng thời cũng đặt ra bài toán lớn liên quan nguồn vốn và tổ chức canh tác nông nghiệp.

Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt giúp minh bạch hóa dòng tiền, giảm thất thu thuế, đồng thời bảo đảm an toàn tài chính cho người dân cũng như nền kinh tế. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Cuộc đua tốc độ và bảo mật

Lời toà soạn - Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 gấp khoảng 28 lần tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tương đương hơn 14 nghìn tỷ USD.

Các hoạt động hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến và phổ biến phương thức thanh toán không dùng tiền mặt (QR code, chuyển khoản) được triển khai mạnh mẽ.

Hướng tới phát triển các hệ sinh thái số

Với tốc độ tăng trưởng hai con số liên tục trong nhiều năm, thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Dù mang lại nhiều tiện ích, việc phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm an toàn, bảo mật.