Khắc ghi lời dạy của Bác về hệ động lực phát triển đất nước

ĐẤT NƯỚC TRƯỚC VẬN HỘI MỚI

Khắc ghi lời dạy của Bác về hệ động lực phát triển đất nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người “dẫn đường” vĩ đại cho dân tộc Việt Nam trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Đúng như Người đã nói, mục tiêu đã có nhưng “phải biết cách làm thì làm mới chóng”[1].

Vì thế, xác định đúng hệ động lực phát triển đất nước và tìm ra cách thức gia tăng sức mạnh của nó, là nhiệm vụ trọng yếu của mọi chặng đường cách mạng.

e-magazine-i-nhandanvn-3.jpg

Là một nhà lập quốc vĩ đại, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn có khát vọng lớn, tầm nhìn xa. Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trong bối cảnh “thù trong, giặc ngoài” và nền kinh tế kiệt quệ, Người vẫn có niềm tin về một ngày Việt Nam sẽ “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”.

Để biến ý tưởng thành thực tiễn, Người đã đề ra một hệ động lực phát triển phong phú, toàn diện và tìm mọi cách phát huy sức mạnh của nó.

Với quan điểm “vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả”[2], Hồ Chí Minh khẳng định, động lực quan trọng nhất để phát triển đất nước chính là con người được hiểu trên hai bình diện là cá nhân và cộng đồng.

1957-2-484x643.jpg
Chù tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Muốn con người cá nhân trở thành động lực thì phải tác động vào nhu cầu, lợi ích chính đáng và phát huy quyền làm chủ, ý thức làm chủ của người dân. Đối với con người cộng đồng thì chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc, đoàn kết, sáng tạo chính là một động lực vô song giúp cho dân tộc Việt Nam đứng vững trước muôn vàn thử thách khốc liệt với tư thế người chiến thắng.

Động lực phát triển luôn tồn tại dưới dạng tiềm năng cho nên lực lượng lãnh đạo phải biết khai thác nó một cách chủ động, khoa học. Vì thế, Hồ Chí Minh rất đề cao động lực chính trị, bao gồm vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý nhà nước và tập hợp lực lượng của Mặt trận Dân tộc thống nhất, trong đó, sự lãnh đạo của Đảng đóng vai trò “hạt nhân”.

Do mọi hoạt động của xã hội đều dựa trên nền tảng kinh tế cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng việc phát huy động lực kinh tế. Người cho rằng muốn có tiềm lực kinh tế, đưa kinh tế trở thành động lực thì phải có phương thức quản lý khoa học, dân chủ, phải vận dụng các thành tựu của khoa học-kỹ thuật vào sản xuất và ra sức thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí.

Đúng đắn trong xác định, phát huy các động lực và kiên quyết đẩy lùi các trở lực như sự chống phá của lực lượng thù địch, các thói quen, truyền thống lạc hậu và chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn dắt dân tộc Việt nam đi đến các đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Là một nhà hoạt động quốc tế đầy trải nghiệm, Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của động lực quốc tế với sự hợp tác giữa các dân tộc, sự ủng hộ của nhân loại và thành tựu khoa học-kỹ thuật tiên tiến nhưng nội lực đóng vai trò quyết định và phát huy động lực bên ngoài là để nâng cao sức mạnh bên trong.

e-magazine-i-nhandanvn.jpg

Thực hiện khát vọng phát triển của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dựa trên kết quả 40 năm Đổi mới và sự biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, trong nước, Đảng Cộng sản Việt Nam khởi phát “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”.

Đó chính là kỷ nguyên phát triển bứt phá theo định hướng xã hội chủ nghĩa để đạt các mục tiêu hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc dưới lá cờ vẻ vang của Đảng.

“Dư địa” thời gian để thực hiện mục tiêu đó chỉ còn hơn 2 thập niên nhưng bên cạnh 4 nguy cơ được xác định từ năm 1994 mà đến nay, vẫn tồn tại và có mặt còn trở nên gay gắt hơn, Việt Nam đang đứng trước một loạt các nguy cơ mới như “bẫy thu nhập trung bình”, “chưa giàu đã già”, “tị nạn khí hậu”…

image-780x544.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ngày 2/3/1946. (Ảnh tư liệu/TTXVN)

Muốn thoát khỏi các nguy cơ đó và đạt mục tiêu phát triển nhanh đi đôi với bền vững, Việt Nam cần phát huy mạnh mẽ hệ động lực phát triển của đất nước hiện nay.

Trước hết, phải có sự đột phá về thể chế để khơi thông mọi nguồn lực, mọi tiềm năng của đất nước. Xác định đây chính là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, Bộ Chính trị khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tiến hành công việc này, cần khắc ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh rằng “phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân”[3] và do đó, phải đề phòng việc “cài cắm lợi ích nhóm” trong xây dựng luật pháp.

Cũng cần “tham khảo Hiến pháp của các nước bạn và của một số nước tư bản có tính chất điển hình”[4] một cách có chọn lọc để pháp luật Việt Nam vừa có sự tương thích với thế giới, vừa phù hợp với điều kiện đất nước.

Việt Nam cần phát huy sức mạnh của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thịnh vượng về vật chất sẽ giúp Việt Nam nâng cao đời sống nhân dân, khả năng phòng vệ đất nước và vị thế quốc tế.

Muốn vậy, phải thực hiện một loạt biện pháp: Xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên sức mạnh của khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; đẩy mạnh việc cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế; phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các thành phần kinh tế mà kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất.

Văn hóa và con người Việt Nam là động lực không thể thiếu vì xưa nay, không dân tộc nào có thể “cất cánh”, phát triển nếu không dựa trên sức mạnh của văn hóa, con người.

Khi thế giới hội nhập ngày càng sâu rộng, văn hóa chính là hồn cốt, là “thẻ căn cước” của từng dân tộc; chỉ dân tộc nào có nội lực văn hóa mạnh mẽ mới không bị hòa tan và tiếp biến được tinh hoa văn hóa nhân loại.

Muốn phát triển bền vững phải kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và an ninh quốc phòng, bảo vệ môi trường để hướng tới mục tiêu vì con người trong hiện tại và tương lai.

Thực hiện tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế một cách chủ động, sáng tạo để tạo ra môi trường thuận lợi cho đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, từng bước đưa Việt Nam trở thành một chủ thể đóng vai trò kiến tạo các định chế khu vực và thế giới.

3-1.jpg
Nhân dân Ba Lan nồng nhiệt đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 7/1957. (Ảnh tư liệu: TTXVN)

Điều quan trọng nhất lúc này là phát huy sức mạnh của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là lực lượng lãnh đạo duy nhất của dân tộc Việt Nam. Cần khắc ghi lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rằng phải làm cho mỗi đảng viên toàn tâm, toàn ý phục vụ nhân dân, vì “làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”[5].

Đảng cũng phải tự đổi mới để trở thành biểu tượng của “văn minh” với trình độ tư duy hiện đại, phương thức lãnh đạo dân chủ, khả năng thích ứng trước mọi biến động của thời cuộc nhằm thực hiện bằng được cam kết đưa dân tộc Việt Nam đến phồn vinh, hạnh phúc.

Sự phồn vinh, hạnh phúc là những “chỉ số” mở và không ngừng được nâng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định, Việt Nam là “một dân tộc đã có một nền văn hóa lâu đời, nhưng lại có đủ khả năng để trẻ lại”[6]. Thực hiện khát vọng của Người, Việt Nam cần thể hiện tư cách của một dân tộc không chỉ “dám đánh”, “biết thắng” trong chiến tranh vệ quốc mà còn biết “vươn mình” để phát triển - đó là lời thề danh dự của Đảng, là lòng tự tôn của một dân tộc có nền văn hiến lâu đời trong hành trình “định vị” lại chỗ đứng của mình trong hành trình phát triển của nhân loại.

------------------------

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, t.2, tr.282.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.281.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.9, tr.259.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr.510.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.616.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.327.

e-magazine-i-nhandanvn-2.jpg

Có thể bạn quan tâm

Những mùa xuân kết tinh từ nghĩa tình quân dân

Những mùa xuân kết tinh từ nghĩa tình quân dân

Giữa trùng khơi sóng nước, Tổ quốc Việt Nam vẫn hiện hữu thiêng liêng qua từng tấc đảo, từng hơi thở của quân và dân nơi đầu sóng ngọn gió. Vất vả gian lao là hữu hình, nhưng tình người và lý tưởng phụng sự lại là sức mạnh vô hình gắn kết những cuộc đời xa lạ trở thành một khối thống nhất, một gia đình lớn mang tên Trường Sa.

Bánh khảo là thức quà truyền thống của người Tày ở Cao Bằng đãi khách mỗi dịp Tết đến, xuân về.

Thơm ngon hương vị bánh khảo ngày Tết của người Tày

Mỗi độ xuân về, khi Tết Nguyên Đán cận kề, đồng bào Tày ở Cao Bằng lại tất bật chuẩn bị những món ăn truyền thống để đón năm mới. Trong đó, bánh khảo là đặc sản không thể thiếu trong mỗi gia đình, vừa là thức quà đãi khách, vừa gửi gắm ước vọng về một năm sung túc, đủ đầy.

Tiết mục văn nghệ trong chương trình gặp gỡ “Xuân Quê hương 2026” do Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia tổ chức. (Ảnh: ĐINH TRƯỜNG)

Cộng đồng người Việt tại Campuchia bước vào năm mới tràn đầy hy vọng

Phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại Campuchia ghi lại một số chia sẻ, kỳ vọng trong năm mới của đại diện cộng đồng người gốc Việt về tương lai đất nước và quan hệ Việt Nam-Campuchia, nhất là sau thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIV và chuyến thăm của Tổng Bí thư Tô Lâm tới Campuchia ngay trước Tết Bính Ngọ 2026.

Đến Tết, chó đá Ma-hin không chỉ được tắm mà còn được choàng một chiếc khăn đỏ.

Tục thờ chó đá Ma-hin của người Tày

Tục thờ chó đá Ma-hin là một nét tín ngưỡng độc đáo của người Tày, thể hiện quan niệm vạn vật hữu linh và khát vọng được che chở, bảo vệ. Qua nhiều thế hệ, linh thú trước cửa mỗi gia đình không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn trở thành biểu tượng văn hóa bền bỉ của cộng đồng.

Lễ chùa đầu năm không chỉ là hoạt động tâm linh mà còn là nét đẹp văn hóa.

Nét đẹp văn hóa từ hoạt động lễ chùa đầu năm

Tự bao đời, trong tâm thức người Việt, Tết không chỉ mang ý nghĩa của việc tiễn đưa năm cũ, chào đón năm mới, mà còn mang đậm nét tâm linh, tín ngưỡng. Ngoài tục lệ cúng gia tiên, mọi người còn thường tìm về các đền, chùa để cầu phúc, cầu may cho gia đình với mong muốn những điều tốt đẹp nhất trong năm mới.

Mùng Một Tết ở Trường Sa

Mùng Một Tết ở Trường Sa

Khi đất liền rộn ràng tiếng chúc xuân, giữa trùng khơi, quần đảo Trường Sa đón ngày mùng Một Tết trong không khí trang nghiêm, ấm áp và đầy ý nghĩa. Không pháo hoa rực rỡ hay phố phường đông vui, nhưng mùa xuân nơi đầu sóng vẫn hiện hữu trọn vẹn, ấm áp nghĩa tình với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trên đảo.

Đà Nẵng mùa xuân Bính Ngọ năm 2026.

Giữa khoảng lặng mùa xuân thành phố

Đà Nẵng mùa xuân, không gian tràn ngập nắng. Phố rộng hơn nhưng gần hơn và trong dòng chảy bất tận của mùa xuân, chạm một nụ cười trong nắng sớm, lòng người, nhẹ hơn trong khoảnh khắc này giữa khoảng lặng mùa xuân thành phố.

Trên đỉnh núi, giữa gió biển và sương đêm, những người lính lặng thầm dõi theo từng tín hiệu trên màn hình ra-đa, ngày đêm canh giữ vùng trời Tổ quốc.

Những đôi mắt không ngủ trên “mặt trận vô hình”

Trên đỉnh núi, giữa gió biển và sương đêm, những người lính lặng thầm dõi theo từng tín hiệu trên màn hình ra-đa, ngày đêm canh giữ vùng trời Tổ quốc. Công việc của họ ít khi được nhắc tới, nhưng mỗi ca trực, mỗi phút giây tập trung cao độ đều góp phần giữ bình yên cho bầu trời và cuộc sống dưới mặt đất

“Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

“Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”

Từ ngôi làng nhỏ bé bên sông Đuống, tranh Đông Hồ đã chính thức được thế giới công nhận những giá trị độc đáo của mình. Dòng tranh Tết “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong”, sau nhiều năm âm thầm vượt qua những khó khăn của cuộc sống, của thị trường, đã trở lại rực rỡ.

Xuân về giữa trùng khơi Trường Sa

Xuân về giữa trùng khơi Trường Sa

Mỗi khi Tết đến, xuân về, khi đất liền rộn ràng trong sắc đào hồng, mai vàng, thì giữa Biển Đông mênh mông, quần đảo Trường Sa cũng bước vào mùa xuân theo một nhịp riêng.

Ảnh: THÀNH ĐẠT

Về quê ăn Tết

Đã nhiều năm nay, từ khi bước qua tuổi sáu mươi, tôi thường về quê ăn Tết sớm. Năm nay cũng vậy, khi những cơn gió mùa Đông Bắc đầu tiên tràn đến, tôi đã thu xếp về quê ăn Tết. Tôi thèm cái không khí, cái hương vị, cái hồn cốt Tết quê.

Kênh nhà Lê đoạn qua tỉnh Nghệ An có chiều dài 128 km.

Sống cùng đất và nước

Đó là vào năm 1988, trong chuyến đi vào Nghệ An cùng với nhà văn Sơn Tùng và họa sĩ Lê Lam, hai bậc văn nhân nghệ sĩ từng trải đã chỉ cho tôi thấy dòng sông đào lịch sử, tuyến vận tải đường thủy đầu tiên của nước Việt, đó là Kênh nhà Lê.

Minh họa: Nguyễn Minh

Hương bánh chưng bếp củi

Có những mùi hương để nhớ. Chúng lặng lẽ đi cùng ta qua năm tháng, như phần ký ức không thể gọi tên. Với tôi - kẻ sinh ra và lớn lên giữa phố thị - đó là mùi khói củi bảng lảng trong sương chiều giáp Tết, quấn quýt trên mái ngói nâu trầm quê vợ tôi.

Gói bánh chưng, gìn giữ hồn Tết Việt

Gói bánh chưng, gìn giữ hồn Tết Việt

Dường như với bất kỳ người con đất Việt nào, dù đang ở bất cứ nơi đâu, hình ảnh nồi bánh chưng thơm mùi lá dong đặt trên bếp lửa đỏ rực ấm áp, xua tan giá lạnh mùa đông đã trở thành hình ảnh quen thuộc mỗi độ Tết đến Xuân về.

Người thuyền trưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng; mỗi quyết định không chỉ điều khiển con tàu mà còn thể hiện bản lĩnh, trách nhiệm và hình ảnh Tổ quốc giữa biển khơi.

Những người canh giữ mùa xuân

Mỗi dịp Tết đến, khi nhiều gia đình sum vầy bên mâm cơm đoàn tụ, có những con người lặng lẽ lên đường làm nhiệm vụ ở những nơi xa xôi: ngoài khơi, trên những điểm cao lộng gió, hay giữa những cánh rừng sâu. 

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Vẫn tay gầy cùng tôi bày mâm ngũ quả

Chiều cuối năm, nắng mỏng chiếu xiên qua tán cau ở hiên tây, rải chút vàng nhè nhẹ xuống sân gạch. Tôi tỉ mỉ biện bày mâm ngũ quả trong khoảng vắng lặng của ngôi nhà. 

Nụ cười Y Đẻ.

Người Rơ Măm, trong những hồi sinh

Trở lại Mo Rai, tôi nhận thấy luồng sinh khí mới, khi mà sự hồi sinh đã thành sức vươn lên mạnh mẽ. Mái nhà rông làng Le vươn cao trên nền trời xanh Tây Nguyên, khẳng định sự hiện diện tự tin và kiêu hãnh của bà con dân tộc Rơ Măm, tộc người từng đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nhiều năm trước.

Suối nguồn Tây Nguyên

Suối nguồn Tây Nguyên

Từ bao đời nay, người Mạ, Cơ Ho, Ê Đê, M’Nông, Gia Rai, Ba Na... trên vùng đất đại ngàn Tây Nguyên luôn chọn đất lập làng gần những dòng nước mát lành.