[Hỏi đáp] Tác động của nước biển dâng tại Việt Nam chủ yếu ảnh hưởng đến khu vực nào?

Tác động của nước biển dâng tại Việt Nam chủ yếu ảnh hưởng đến các khu vực đồng bằng ven biển trũng thấp.

Ảnh minh họa: Người dân cư ngụ ven sông Cà Mau chủ động bố trí nuôi thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu và nước dâng cao. (Ảnh: Kim Há - TTXVN)
Ảnh minh họa: Người dân cư ngụ ven sông Cà Mau chủ động bố trí nuôi thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu và nước dâng cao. (Ảnh: Kim Há - TTXVN)

Hỏi: Tác động của nước biển dâng tại Việt Nam chủ yếu ảnh hưởng đến khu vực nào?

Trả lời: Tác động của nước biển dâng tại Việt Nam chủ yếu ảnh hưởng đến các khu vực đồng bằng ven biển trũng thấp, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng.

- Đồng bằng sông Cửu Long: Đây là khu vực chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất do có diện tích rộng lớn với địa hình rất thấp so với mực nước biển. Nước biển dâng làm gia tăng nguy cơ ngập lụt thường xuyên, đặc biệt khi kết hợp với triều cường và lũ từ thượng nguồn. Nó cũng làm trầm trọng thêm tình trạng xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền, ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt, đất nông nghiệp và các hệ sinh thái. Nhiều thành phố và khu dân cư trong vùng đối mặt với nguy cơ ngập úng.

- Đồng bằng sông Hồng: Mặc dù có hệ thống đê điều tương đối kiên cố, nhiều khu vực ven biển của Đồng bằng sông Hồng, bao gồm các thành phố lớn và các vùng nông nghiệp quan trọng, cũng rất dễ bị tổn thương bởi nước biển dâng. Nguy cơ ngập lụt, xâm nhập mặn và xói lở bờ biển cũng hiện hữu.

- Dải ven biển miền trung: Các tỉnh duyên hải miền trung với nhiều cửa sông và đầm phá cũng chịu tác động tiêu cực, mặc dù quy mô có thể không lớn bằng hai đồng bằng châu thổ chính.

Có thể bạn quan tâm

Ngập lụt ở xã Nam Dương, Bắc Ninh (Ảnh: NAM PHONG)

Bài 1: Nhận biết và chủ động thích ứng

Việt Nam có nhiều ngành kinh tế chịu sự tác động trực tiếp của khí hậu. Vì vậy, việc xây dựng những kịch bản biến đổi khí hậu không phải để dự đoán hay dự báo, mà là cách chủ động ứng phó trước những diễn biến khó lường của thời tiết và tác động có thể xảy ra đối với hệ sinh thái, con người và nền kinh tế.

ESG và hành trình Go Global: Xây dựng uy tín để doanh nghiệp Việt “được lựa chọn”. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

ESG và hành trình Go Global: Xây dựng uy tín để doanh nghiệp Việt “được lựa chọn”

Muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam không thể chỉ dựa vào lợi thế chi phí. Năng lực quản trị, tính ổn định, chất lượng, khả năng truy xuất dữ liệu và trách nhiệm với môi trường, xã hội đang trở thành những yếu tố quan trọng để xây dựng niềm tin với đối tác quốc tế.

Hội thảo tham vấn “Giải pháp dựa vào tự nhiên nhằm phục hồi rừng sau khai thác khoáng sản và cơ hội tham gia thị trường carbon trong tương lai”, ngày 29/9.

Phục hồi rừng sau khai khoáng gắn với cơ hội phát triển thị trường carbon

Phục hồi rừng sau khai thác khoáng sản cần được thực hiện theo hướng dựa vào tự nhiên, gắn với quản lý tài nguyên theo cảnh quan và bảo đảm duy trì các chức năng sinh thái lâu dài. Cùng với đó, phát triển các dự án tín chỉ carbon rừng phù hợp có thể tạo thêm nguồn lực cho công tác phục hồi và quản lý rừng bền vững.

Đại diện JICA, VNUA và Toyo ký kết bàn giao hệ thống thiết bị máy móc. (Ảnh: ANH THƯ)

Thúc đẩy sản xuất điện và phân bón hữu cơ từ các loại rác thải rắn

Ngày 16/9, tại Hà Nội, JICA Việt Nam và Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) tổ chức hội nghị chia sẻ kết quả và sản phẩm của dự án “Khảo sát tiềm năng phát triển kinh doanh bền vững đối với doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất điện và phân bón hữu cơ bằng công nghệ lên men tạo khí mê-tan từ các loại rác thải rắn ở Việt Nam”.

Bất động sản ESG ngày càng có lợi thế cạnh tranh hơn trên thị trường. (Ảnh: Cộng tác viên)

Bất động sản ESG đang trở thành xu thế tất yếu

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nghiêm Thị Thà, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), bất động sản xanh phát triển theo các tiêu chuẩn ESG (Môi trường-Xã hội-Quản trị) không còn là lựa chọn mang tính tự nguyện mà đang trở thành xu hướng tất yếu của thị trường.

Biến nỗ lực giảm phát thải thành tài sản chiến lược

Biến nỗ lực giảm phát thải thành tài sản chiến lược

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ chủ trương phát triển kinh tế xanh, nông nghiệp sinh thái tuần hoàn gắn với mục tiêu phát triển bền vững. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, chuyển đổi mô hình tăng trưởng vừa là lựa chọn vừa là yêu cầu tất yếu khách quan trước tác động ngày càng gay gắt của biến đổi khí hậu.

Hydro có thể được sản xuất từ năng lượng tái tạo.

Đánh thức nguồn năng lượng mới

Trong xu hướng toàn cầu về giảm phát thải, việc tìm kiếm và khai thác nguồn năng lượng thân thiện môi trường nhận được sự quan tâm của nhiều quốc gia. Một trong các giải pháp đó là năng lượng từ khí hydro (H2; hydrogen) đã được các nhà khoa học nghiên cứu và chứng minh hiệu quả.

Dây chuyền chế biến gạo của Công ty TNHH Lúa gạo Việt Nam (Vinarice). (Ảnh: ĐỨC AN)

Gỡ “nút thắt”, gia tăng lợi ích từ lúa phát thải thấp

Giai đoạn 2026-2030, Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long sẽ tiếp tục mở rộng quy mô. Tuy nhiên, để Đề án mang lại hiệu quả kinh tế thực chất cho nông dân, cần sớm tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực hiện đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng khẳng định, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn kiên định mục tiêu phát triển nhanh phải đi đôi với phát triển bền vững. (Ảnh: VGP/ĐỨC TUÂN)

Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero

Ngày 8/7, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng, Chủ tịch Hội đồng quốc gia về Phát triển bền vững dự và phát biểu chỉ đạo tại Diễn đàn "Năng lượng và môi trường thế giới-Việt Nam 2026" với chủ đề "Việt Nam cụ thể hóa con đường tới Net Zero".