Hành trình kết nối trái tim

"Thanh, đừng nhận thêm hàng nữa. Để phát hết số hàng trong kho đã". Gác điện thoại, mắt chị Thanh lấp lánh niềm vui. Vui vì sau nhiều năm cùng cộng đồng người Việt tại Nga làm thiện nguyện, anh chị em trong nhóm đã kết nối được thêm nhiều tấm lòng hảo tâm, để tăng nguồn lực tiếp tục hành trình mang từng suất quà đến tận tay những cảnh đời còn nghèo khó, bất hạnh trên nước Nga rộng lớn. Đó cũng là cách để người Việt tri ân nước Nga, nơi họ đã gắn bó sâu đậm.
Người Việt tại Nga thăm, tặng quà trẻ em trường nội trú ở Nga.
Người Việt tại Nga thăm, tặng quà trẻ em trường nội trú ở Nga.

Một cụ tóc bạc, chân mang tất khác mầu, tay ôm chặt trước ngực túi quà có in dòng chữ "Cộng đồng người Việt tại Nga", cùng lá cờ đỏ sao vàng năm cánh. Một ông cụ một tay vắt hai chiếc áo, tay kia cầm thêm một chiếc khăn quàng. Những em bé dong dỏng cao, đội mũ len mới, hớn hở trong những bộ quần áo tinh tươm, tụm năm tụm bảy trước ống kính máy quay. Tất cả đều nở nụ cười.

Hơn bốn năm nay, cứ sau mỗi chuyến đi thiện nguyện đến trại trẻ mồ côi, trại tị nạn hay bệnh viện, chị Trịnh Thị Thu Thanh lại gửi vào nhóm những hình ảnh kiểu thế. Bận tối mắt tối mũi ở Trung tâm thương mại Sadovod, mà người Việt tại Nga vẫn quen gọi "chợ Chim", song người phụ nữ này vẫn đều đặn cùng anh chị em quyên góp, nhận hàng, phân loại và tìm các trung tâm hỗ trợ xã hội để trực tiếp đến trao quà, hay liên hệ gửi đồ đến tận nơi. Họ cũng dành phần hỗ trợ những người Việt Nam còn khó khăn trên Xứ sở Bạch Dương.

"Tôi luôn tâm niệm rằng, người có thì chia cho người khó. Anh chị em cùng nhau gom góp, cùng chia sẻ, rồi mọi người kết nối và lan tỏa". Với suy nghĩ đó, chị Thanh cùng các anh chị em đã xây dựng nên một phong trào thiện nguyện gắn kết được cộng đồng người Việt ở Nga, từ sinh viên, người đi chợ, đến những chủ xưởng may, hay những doanh nghiệp lớn…

Là một trong những người tích cực nhất trong nhóm, mỗi lần có lịch đến các cơ sở để trao quà, anh Nguyễn Ngọc Hợi bỏ hết công việc để tham gia. Anh bày tỏ: "Làm thiện nguyện vì niềm vui nho nhỏ dành cho những phận đời khó khăn. Nhóm cũng làm vì hình ảnh Việt Nam, hình ảnh cộng đồng người Việt đã sinh sống và phát triển ở nước Nga hàng chục năm nay. Để những người chưa biết nhiều về người Việt, hoặc còn hiểu nhầm, sẽ có cái nhìn thiện cảm hơn về những con người Việt Nam cần cù, chịu khó".

Chị Thanh, anh Hợi và những anh chị em khác được Trung tâm thương mại Sadovod cho mượn kho làm nơi tập kết hàng hóa. Ngoài việc tự quyên góp, nhóm cũng cùng nhau phân loại hàng nhận được từ những địa phương khác. Rồi sau đó, họ chuyển quần áo trẻ em đến trại trẻ mồ côi. Quần áo lớn hơn gửi trại tị nạn. Các nhu yếu phẩm khác, chăn ga, gối nệm ủng hộ bệnh viện. Những con người lầm lũi cả ngày ngoài chợ, quanh năm chỉ vài ba ngày nghỉ, nhưng luôn sẵn sàng có mặt để đưa những món quà nhỏ là tấm lòng của bà con người Việt đến tận tay những mảnh đời khó khăn.

Thỉnh thoảng, bản thân anh Hợi và nhiều anh em khác cũng cảm thấy chạnh lòng, khi một số người buông những lời khó nghe. "Nhưng chúng tôi chỉ im lặng, động viên nhau. Người ta không hiểu, nước Nga không phải nơi nào cũng đẹp và hoa lệ như ở Moscow. Có nhiều nơi còn khó khăn lắm. Cứ đi thử cùng chúng tôi một chuyến, họ tự sẽ cảm nhận được", anh Hợi nói.

Gia đình chị Trịnh My có xưởng may ở ngoại ô Moscow. Bốn người con "ăn cơm" nước Nga từ bé và lớn lên bên này. Qua lời giới thiệu của một người bạn, chị My mau chóng kết nối với nhóm và đề nghị gửi hàng trăm bộ quần áo để hỗ trợ các trại trẻ mồ côi hay bệnh viện. Với những phần quà nhỏ bé ấy, chị My mong muốn có thể đóng góp một ít công sức vào phong trào chung, để có thể phần nào trả ơn nước Nga. Nhận được từ nước Nga quá nhiều, chị cũng thừa nhận những cái mình gửi lại nước Nga chưa thấm vào đâu.

"Do tiếng Nga của mình còn hạn chế, không thì mình có thể giúp đỡ nhiều hơn nữa. Mình có xưởng, có công nhân, cần hàng gì mình đều có thể đáp ứng. Cho đi phần đó, mình không nghèo đi được. Bán đi phần đó, mình không giàu thêm. Mình cũng kêu gọi các chủ xưởng may khác tham gia phong trào. Làm một việc tốt, cuộc đời có ý nghĩa hơn. Mình cũng sẽ sống thanh thản hơn", chị My thổ lộ.

Chính những xưởng may của chị My, hay nhiều những xưởng may nữa của người Việt là nguồn lực lớn hỗ trợ phong trào thiện nguyện của cộng đồng người Việt tại Nga. Phong trào mạnh mẽ hơn từ khi lượng lớn người tị nạn từ Ukraine sơ tán sang Nga hồi đầu năm ngoái. Không chỉ quần áo, đồ dùng cá nhân, nhóm cũng tích cực huy động thực phẩm gửi đến các trại tị nạn để hỗ trợ dân thường. Tấm lòng của cộng đồng đã được các cơ sở ở Nga đón nhận. "Các bạn không chỉ giúp đỡ, mà còn trao tặng niềm vui, niềm hy vọng, giúp con người tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc đời này", một cơ sở hỗ trợ xã hội bày tỏ biết ơn chân thành đến cộng đồng người Việt vì những suất quà dành cho người tị nạn từ Ukraine.

Không biết bao nhiêu tải hàng đã đến tay những người Nga cần giúp đỡ. "Tính ra thì nhiều lắm, nhưng kể để làm gì. Vì mọi người cho đi và không mong nhận lại. Mọi thứ đều xuất phát từ tâm", chị Thanh bảo. Chưa hết, có lẽ sự nhanh nhạy trong làm ăn buôn bán cũng đã ngấm sang cả những hoạt động thiện nguyện. Vừa qua, ngay sau khi trận động đất kinh hoàng xảy ra ở Thổ Nhĩ Kỳ và Syria, cộng đồng người Việt tại Nga đã mau chóng quyên góp, hỗ trợ các nạn nhân vụ động đất. Với những thùng hàng in cờ Việt Nam, hoạt động thiện nguyện theo đó đã vươn ra khỏi lãnh thổ nước Nga rộng lớn.

Sau nhiều năm, phong trào thiện nguyện của cộng đồng người Việt ở Nga đã trở thành điểm sáng, là địa chỉ tin cậy cho cả những người nước ngoài tham gia. Các chương trình đã đều đặn hơn và có mặt ở ngày càng nhiều khu vực tại Nga. Từ đầu, những suất quà chỉ là tự phát, do những người Việt Nam tự tay chuẩn bị, hay một nhóm anh em, bạn bè mang tặng. Nhưng khi lớn mạnh, phong trào đã thống nhất in tên "Cộng đồng người Việt tại Nga" lên mỗi thùng hàng. Nhìn vào những tải hàng xếp chồng lên nhau, những lá cờ đỏ sao vàng ngay ngắn, mọi người như được tiếp thêm sức lực. Đó là sự tri ân dành cho nước Nga, nơi đã mang lại điều kiện vật chất, cuộc sống đủ đầy cho nhiều người Việt, nơi đã giúp không biết bao nhiêu công nhân lao động phát triển, để giờ có thể làm chủ, cũng là nơi mang lại tương lai cho những thế hệ trẻ Việt Nam còn học tập và tiếp tục trưởng thành.

Trong mỗi chuyến đi thiện nguyện, các em nhỏ Việt Nam học được vô số điều. Với người lớn, đó là cách để các thế hệ trẻ cảm nhận tinh thần cộng đồng, tinh thần dân tộc, để các em không cảm thấy lạc lõng, bơ vơ. Nhóm cũng kết hợp chương trình cùng những tổ chức xã hội của Nga, đại diện những tôn giáo khác ở Nga. Giữa không gian pha trộn nhiều sắc mầu dân tộc, tôn giáo khác nhau, nơi chỉ có tình yêu và sự sẻ chia, tiếng nói Việt Nam, hình ảnh Việt Nam, sự tri ân của người dân Việt Nam được người Nga đón nhận. Nơi đó, hai tiếng Việt Nam nghe thật gần gũi, thân thương.

Có thể bạn quan tâm

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.