Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ trở thành yếu tố then chốt đối với sự phát triển của doanh nghiệp. Những năm qua, cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp khoa học, công nghệ đã có bước trưởng thành rõ nét. Đây là lực lượng trực tiếp thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, có khả năng làm chủ công nghệ, tạo ra giá trị kinh tế-xã hội. Doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp khoa học, công nghệ sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ về đầu tư, thuế, tín dụng, đất đai. Các đơn vị này được ưu tiên thuê hạ tầng tại các khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đồng thời, được sử dụng các phòng thí nghiệm dùng chung, cơ sở ươm tạo, trung tâm đổi mới sáng tạo và hỗ trợ xúc tiến thương mại, truyền thông...
Tuy nhiên, trên thực tế, dù nhiều doanh nghiệp đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của doanh nghiệp khoa học, công nghệ, song số lượng được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học, công nghệ còn khiêm tốn. Một trong những nguyên nhân chủ yếu là do doanh nghiệp chưa thật sự cảm nhận được những lợi ích thiết thực từ chính sách của Nhà nước dành cho doanh nghiệp khoa học, công nghệ.
Thực tiễn cho thấy, trước đây, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2007/NĐ-CP về doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đã giao thẩm quyền cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ cho các Sở Khoa học và Công nghệ của địa phương. Song, tại nhiều địa phương, cơ quan quản lý có thẩm quyền vẫn gặp không ít khó khăn trong quá trình triển khai do thiếu đội ngũ cán bộ có năng lực thẩm định các dự án của doanh nghiệp, ảnh hưởng việc xem xét, cấp giấy chứng nhận.
Đáng chú ý, trong bối cảnh công nghệ số, bán dẫn, vi mạch và chuyển đổi số bùng nổ, tạo nền tảng thuận lợi cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ bứt phá, nhưng việc triển khai các chính sách hỗ trợ vẫn còn hạn chế. Theo Tiến sĩ Nguyễn Quân, Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, dù phần lớn doanh nghiệp khoa học, công nghệ phát triển trên nền tảng công nghệ số, song vẫn thiếu hướng dẫn cụ thể, khiến việc tiếp cận các ưu đãi, đặc biệt về thuế và đất đai, gặp nhiều khó khăn, trong đó thủ tục vẫn là rào cản lớn. Đối với doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ và các startup, khó khăn lớn nhất vẫn là nguồn vốn. Tài sản chủ yếu là trí tuệ, trong khi tài sản thế chấp truyền thống gần như không có, khiến việc tiếp cận tín dụng ngân hàng trở nên khó khăn.
Từ góc độ doanh nghiệp, bà Trần Thanh Việt, CEO VGreen cho biết, doanh nghiệp vẫn gặp nhiều rào cản, nhất là trong tiếp cận nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển (R&D), hoàn thiện hồ sơ khoa học chuyên sâu và chuyển hóa chính sách hỗ trợ thành cơ chế vận hành cụ thể; cùng với đó là hạn chế về nhân lực khoa học, công nghệ, năng lực hấp thụ công nghệ và yêu cầu ngày càng cao về quản trị chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật.
Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là trụ cột của tăng trưởng bền vững, việc tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ phát triển được xem là yêu cầu quan trọng để củng cố hệ sinh thái đổi mớisáng tạo.
Nhiều chủ trương gần đây tiếp tục nhấn mạnh vai trò của đổi mới sáng tạo và thương mại hóa kết quả nghiên cứu trong chiến lược phát triển dài hạn. Trong đó, việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW được coi là định hướng chiến lược, triển vọng phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Vấn đề then chốt hiện nay là tổ chức thực hiện các giải pháp đột phá từ hai Nghị quyết này theo hướng gắn chặt với quyền lợi thực chất của doanh nghiệp, đồng thời, giải phóng doanh nghiệp khỏi những rào cản thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, cộng đồng doanh nghiệp khoa học và công nghệ cần mạnh dạn đưa các kết quả nghiên cứu, công nghệ mới vào sản xuất, kinh doanh và chủ động tiếp cận các cơ quan quản lý nhà nước để kịp thời thụ hưởng các chính sách ưu đãi.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Quân, cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính cần sớm ban hành các văn bản hướng dẫn mang tính “cầm tay chỉ việc”, theo hướng thông thoáng, minh bạch, cắt giảm tối đa thủ tục hành chính. Từ đó, tạo điều kiện để doanh nghiệp thuận lợi trong việc được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, cũng như tiếp cận hiệu quả các chính sách ưu đãi của Nhà nước, nhất là các nguồn lực tài chính phục vụ hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công nghệ của chính doanh nghiệp.
Tiến sĩ Phạm Thế Dũng, Hội Tự động hóa Việt Nam cho biết, các giải pháp hỗ trợ hiện nay cần tập trung đồng bộ vào nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho doanh nghiệp. Cần tăng cường hỗ trợ tài chính cho hoạt động nghiên cứu, phát triển; thúc đẩy chuyển giao, làm chủ và phát triển công nghệ; gia tăng tài sản sở hữu trí tuệ. Đồng thời cần hướng dẫn các cơ sở tham gia hiệu quả các chương trình khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải chủ động đổi mới, nâng cao năng lực nội tại; Nhà nước tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ và thúc đẩy liên kết hệ sinh thái khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặc biệt là mô hình liên kết “Nhà nước - nhà khoa học - doanh nghiệp”.
Thời gian qua, Hội Tự động hóa Việt Nam đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tập trung vào tư vấn, đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình hoạt động và phát triển. Đồng thời, Hội tăng cường kết nối doanh nghiệp tự động hóa với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đóng vai trò đầu mối triển khai và phát triển Hệ sinh thái doanh nghiệp tự động hóa, góp phần tạo nền tảng hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.