Cơ chế thẩm định nhanh đơn đăng ký sáng chế, nhãn hiệu
Theo Điều 14a Nghị định số 65/2023/NĐ-CP được bổ sung bởi Điều 17 Nghị định số 100/2026/NĐ-CP, quy định về thẩm định nội dung nhanh đối với đơn đăng ký sáng chế và đơn đăng ký nhãn hiệu đã được thiết lập.
Đối với đơn đăng ký sáng chế, việc thẩm định nhanh được thực hiện theo thời hạn quy định tại khoản 2a Điều 119 Luật Sở hữu trí tuệ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện như sáng chế thuộc danh mục công nghệ chiến lược hoặc phục vụ tình huống khẩn cấp; đã được khai thác thương mại; có yêu cầu công bố sớm tại thời điểm nộp đơn; số lượng điểm yêu cầu bảo hộ không vượt quá giới hạn theo quy định; không phải là đơn tách hoặc đơn chuyển đổi và đã nộp phí thẩm định nội dung nhanh.
Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu, việc thẩm định nhanh cũng được áp dụng theo khoản 2a Điều 119 Luật Sở hữu trí tuệ khi nhãn hiệu liên quan sản phẩm công nghệ chiến lược hoặc là điều kiện bắt buộc để thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh; đơn được nộp trực tiếp (không phải đơn quốc tế theo Điều 120 Luật Sở hữu trí tuệ); nhãn hiệu không thuộc các loại nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu ba chiều hoặc nhãn hiệu âm thanh; đồng thời các điều kiện phải được đáp ứng đối với toàn bộ hàng hóa, dịch vụ trong đơn và đã nộp phí theo quy định.
Ngoài ra, Điều 14a cũng quy định rõ yêu cầu thẩm định nhanh phải được nộp đồng thời với đơn đăng ký và trong các trường hợp không đáp ứng điều kiện, phát sinh tranh chấp, khiếu nại hoặc có ý kiến phản đối theo Điều 112a Luật Sở hữu trí tuệ, đơn sẽ được xử lý theo quy trình thông thường.
Bổ sung quy định về quản trị tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp
Theo quy định tại Điều 9a Nghị định số 65/2023/NĐ-CP được bổ sung bởi Điều 8 Nghị định số 100/2026/NĐ-CP, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm lập và lưu giữ Danh mục quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán.
Danh mục này được sử dụng phục vụ các mục đích quản trị nội bộ như theo dõi tình trạng pháp lý của quyền sở hữu trí tuệ, làm căn cứ định giá trong các giao dịch dân sự, kinh doanh thương mại, cung cấp thông tin chứng minh năng lực và uy tín của doanh nghiệp, cũng như xây dựng chiến lược khai thác tài sản trí tuệ.
Cũng theo quy định tại Điều 9a, Danh mục quyền sở hữu trí tuệ được lập dưới hình thức bản giấy hoặc bản điện tử và phải bao gồm các thông tin cơ bản như đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; tình trạng pháp lý, căn cứ xác lập quyền và thời hạn bảo hộ; thông tin về tác giả, nguồn gốc hình thành; chi phí liên quan việc tạo lập và đăng ký quyền; tình trạng khai thác, giá trị thu được từ việc sử dụng quyền; và giá trị ước tính của quyền sở hữu trí tuệ (nếu có). Quy định này tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc quản trị và khai thác tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp.
Tự động hóa quy trình bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng
Theo Điều 9đ Nghị định số 65/2023/NĐ-CP được bổ sung bởi Điều 12 Nghị định số 100/2026/NĐ-CP, các cơ quan bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm đầu tư, xây dựng và triển khai hệ thống tự động hóa quy trình, nghiệp vụ nhằm kiểm soát, phát hiện và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.
Cụ thể, hệ thống này được sử dụng để tự động phát hiện, giám sát và theo dõi các hành vi xâm phạm trên không gian mạng thông qua việc ứng dụng công nghệ số, công nghệ phân tích dữ liệu lớn và phân tích hành vi. Đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện xử lý hành vi xâm phạm theo quy định pháp luật, bao gồm việc yêu cầu gỡ bỏ nội dung vi phạm, tạm ngừng hoặc hạn chế hoạt động của tài khoản vi phạm, cũng như phối hợp xử lý các vụ việc có yếu tố nước ngoài theo các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Cũng theo Điều 9đ, phạm vi tự động hóa bao gồm các hoạt động như tiếp nhận và phân loại thông tin, đối chiếu dữ liệu quyền sở hữu trí tuệ, cảnh báo, thống kê, báo cáo và hỗ trợ trích xuất dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, xử lý. Tuy nhiên, kết quả của hệ thống tự động hóa chỉ là dữ liệu hoặc khuyến nghị nghiệp vụ, không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền.
Có thể thấy, các nội dung sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 100/2026/NĐ-CP đã cụ thể hóa nhiều quy định quan trọng của Luật Sở hữu trí tuệ, đồng thời bổ sung các cơ chế mới về quản lý, bảo vệ và thẩm định quyền sở hữu trí tuệ.
(Bài viết có sự phối hợp cung cấp dữ liệu và thông tin pháp lý từ LuatVietnam.vn)