Với cách tiếp cận đó, nhiều nước đã quyết liệt làm chủ công nghệ lõi thông qua các chương trình chiến lược quốc gia về phát triển khoa học-công nghệ, ưu đãi đầu tư, xây dựng hệ sinh thái và thị trường,…
Thí dụ như Chính phủ Nhật Bản đã cho triển khai nhiều chương trình hỗ trợ nghiên cứu công nghệ song song với phát triển sản phẩm, tài trợ kinh phí thử nghiệm, cung cấp sandbox, hạ tầng và địa bàn thử nghiệm thực tế. Sau giai đoạn thử nghiệm, các công nghệ khả thi tiếp tục được hỗ trợ triển khai thông qua đơn hàng công hoặc các chương trình dịch vụ công, giúp công nghệ nhanh chóng đi vào vận hành. Tại Mỹ, Chính phủ thường đóng vai trò khách hàng đầu tiên thông qua các chương trình đặt hàng công nghệ, nhất là trong quốc phòng, y tế và hạ tầng. Rất nhiều doanh nghiệp công nghệ lớn của Mỹ đã trưởng thành từ chính các đơn hàng này, trước khi mở rộng ra thị trường dân sự và toàn cầu.
Trong khi đó, Trung Quốc lại đầu tư mạnh cho nghiên cứu công nghệ lõi và tạo lập thị trường nội địa thông qua các chương trình triển khai quy mô quốc gia. Khi có thị trường, doanh nghiệp sẽ có sản lượng để tiếp tục đầu tư vào làm chủ công nghệ. Kinh nghiệm ở đây là nhà nước không làm thay doanh nghiệp, nhưng đóng vai trò kiến tạo thị trường, thể chế và niềm tin chiến lược.
Tại Việt Nam, Chính phủ cũng vừa ban hành chương trình khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược ưu tiên triển khai ngay với mục tiêu đến năm 2030, nghiên cứu, làm chủ công nghệ thiết kế, tích hợp, chế tạo, thử nghiệm và đưa vào ứng dụng sáu sản phẩm công nghệ chiến lược, gồm: Mô hình ngôn ngữ lớn và trợ lý ảo tiếng Việt; AI camera xử lý tại biên; robot di động tự hành; hệ thống và thiết bị mạng di động 5G; hạ tầng mạng blockchain và các lớp ứng dụng truy xuất nguồn gốc, tài sản mã hóa; thiết bị bay không người lái. Để thực hiện, chương trình đưa ra hàng loạt nhiệm vụ, giải pháp từ hoàn thiện thể chế, hỗ trợ nghiên cứu, đến phát triển thị trường và nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, kinh phí triển khai sẽ được bảo đảm từ ngân sách nhà nước theo phân cấp trong tổng số 15% tổng chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp khoa học công nghệ phục vụ nghiên cứu công nghệ chiến lược.
Tuy nhiên, đổi mới sáng tạo sẽ luôn đi trước khung pháp lý, trong khi mức đầu tư cho các công nghệ mới là rất lớn. Vì vậy, cộng đồng doanh nghiệp rất mong Việt Nam sớm áp dụng các cơ chế sandbox và hỗ trợ thử nghiệm tương tự một số quốc gia như đã nêu ở trên, linh hoạt trong lựa chọn doanh nghiệp và địa bàn thí điểm, nhằm giảm rủi ro cũng như rút ngắn thời gian từ nghiên cứu đến làm chủ và ứng dụng công nghệ vào thực tiễn. Quan trọng hơn là cần tạo lập thị trường ban đầu cho các sản phẩm công nghệ chiến lược gắn với hình thành chuỗi cung ứng nội địa.
Theo đó, các dự án sử dụng ngân sách nhà nước cần ưu tiên sản phẩm do người Việt Nam làm chủ công nghệ; đồng thời, áp dụng cơ chế đặt hàng-giao nhiệm vụ công nghệ. Đến khi thị trường đủ lớn, chuỗi cung ứng phần mềm và phần cứng trong nước cũng tự nhiên hình thành, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy doanh nghiệp phát triển và làm chủ công nghệ trong thời gian ngắn.