Trong bối cảnh kinh tế số và đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng, tài sản trí tuệ ngày càng giữ vai trò then chốt trong cấu trúc giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động định giá và thẩm định giá vẫn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt từ thị trường và dữ liệu.

Trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, ông Nguyễn Minh Tiến, Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) khẳng định, khuôn khổ pháp lý về thẩm định giá đã cơ bản đầy đủ, vấn đề cốt lõi hiện nay nằm ở điều kiện thực thi và sự phát triển của thị trường.

Phóng viên: Thưa ông, trong bối cảnh kinh tế số và đổi mới sáng tạo, ông đánh giá như thế nào về vai trò của thẩm định giá tài sản trí tuệ trong hệ thống thẩm định giá tài sản hiện nay ở Việt Nam?

Cục trưởng Nguyễn Minh Tiến: Theo quy định tại khoản 11 Điều 4 của Luật Giá 2023 “11. Định giá là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện xác định giá của hàng hóa, dịch vụ” và khoản 16 của Điều 4 của Luật Giá 2023 “16. Thẩm định giá là hoạt động tư vấn xác định giá trị của tài sản thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm, phục vụ cho mục đích nhất định do doanh nghiệp thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam.”

Như vậy, định giá là một thuật ngữ rộng hơn thẩm định giá; định giá lại được chia thành 2 nhóm: (1) Định giá của Nhà nước (chỉ định giá cho các hàng hóa dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá quy định tại Luật Giá gồm 42 nhóm hàng hóa, dịch vụ) và (2) Các hoạt động định giá còn lại (hoạt động định giá này theo nhu cầu, thỏa thuận; có thể thực hiện bởi bất cứ ai và có thể lựa chọn tham khảo áp dụng hoặc không áp dụng các quy định về quy trình, phương pháp định giá trừ trường hợp pháp luật về sở hữu trí tuệ hoặc khoa học, công nghệ có quy định cụ thể).  

Còn hoạt động Thẩm định giá là hoạt động nghề nghiệp, nghiệp vụ có tính chuyên môn; phải tuân thủ theo các Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam do Bộ Tài chính ban hành; hoạt động thẩm định giá do các tổ chức đáp ứng đủ điều kiện theo luật định thực hiện. Do đó, ở đây tôi chỉ đề cập đến hoạt động thẩm định giá.

Sản xuất ứng dụng công nghệ hiện đại, nơi tài sản trí tuệ ngày càng gia tăng giá trị.

Sản xuất ứng dụng công nghệ hiện đại, nơi tài sản trí tuệ ngày càng gia tăng giá trị.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển dịch mạnh theo hướng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tài sản trí tuệ ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư và phát triển doanh nghiệp. Giá trị của nhiều tổ chức, doanh nghiệp hiện nay không chỉ nằm ở tài sản hữu hình mà còn được hình thành ngày càng lớn từ các tài sản vô hình, trong đó có các tài sản trí tuệ.

Từ thực tiễn đó, yêu cầu nhận diện, xác định và đánh giá các giá trị tài sản trí tuệ một cách đúng đắn và minh bạch ngày càng trở nên cần thiết, không chỉ phục vụ thương mại hóa kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, góp vốn, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp mà còn hỗ trợ cho hoạt động tín dụng, quản trị rủi ro, quản lý tài sản và phát triển thị trường khoa học, công nghệ.

Đồng thời, hoạt động thẩm định giá tài sản trí tuệ thúc đẩy quá trình tài chính hóa tài sản trí tuệ khi chúng có thể được sử dụng làm tài sản bảo đảm hoặc tham gia thị trường vốn; qua đó góp phần phân bổ nguồn lực hiệu quả, khuyến khích đầu tư vào đổi mới sáng tạo và nâng cao chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

Phóng viên: Từ góc độ quản lý nhà nước về thẩm định giá, theo ông, đâu là khó khăn lớn nhất trong hoạt động thẩm định giá tài sản trí tuệ hiện nay, và điểm nghẽn cốt lõi nằm ở khuôn khổ pháp lý, năng lực thị trường hay cơ chế phối hợp liên ngành?

Cục trưởng Nguyễn Minh Tiến: Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về thẩm định giá, tôi cho rằng để trả lời đầy đủ câu hỏi này, trước hết cần phân biệt rõ giữa “định giá” và “thẩm định giá”.

Theo quy định của pháp luật về giá, định giá là khái niệm rộng, bao gồm việc xác định giá trị tài sản có thể do cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân thực hiện. Danh mục hàng hoá, dịch vụ do nhà nước định giá, thẩm quyền và hình thức định giá quy định tại Phụ lục số 02 ban hành kèm theo Luật Giá 2023. Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ chủ trì hướng dẫn định giá tài sản trí tuệ theo quy định tại điểm e khoản 4 Điều 3 Luật Giá 2023. Các hoạt động định giá còn lại: là các hoạt động định giá/xác định giá theo nhu cầu, thỏa thuận hoặc quy định tại các pháp luật chuyên ngành; có thể thực hiện bởi bất cứ ai và có thể lựa chọn tham khảo áp dụng, không áp dụng các quy định về quy trình, phương pháp định giá hoặc quy định chuyên ngành.

Trong khi đó, thẩm định giá là hoạt động dịch vụ chuyên môn có điều kiện, do các doanh nghiệp thẩm định giá hoặc hội đồng thẩm định giá nhà nước thực hiện và phải tuân thủ đầy đủ hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam.

Từ góc độ quản lý nhà nước, có thể khẳng định rằng đối với hoạt động thẩm định giá, khuôn khổ pháp lý hiện nay đã đầy đủ. Hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam đã quy định rõ các cách tiếp cận và phương pháp xác định giá trị tài sản, bao gồm cách tiếp cận từ thị trường, chi phí và thu nhập; đồng thời đã có chuẩn mực riêng về tài sản vô hình, hoàn toàn có thể sử dụng làm cơ sở hướng dẫn trực tiếp cho hoạt động thẩm định giá tài sản trí tuệ.

Do đó, có thể nói rõ rằng điểm nghẽn hiện nay không nằm ở khuôn khổ pháp lý về thẩm định giá. Khó khăn lớn nhất hiện nay phát sinh chủ yếu trong hoạt động định giá tài sản trí tuệ trên thị trường và tính chất thực thi của hoạt động này.

Cụ thể, thứ nhất, hạn chế về dữ liệu giao dịch. Thị trường tài sản trí tuệ ở Việt Nam chưa phát triển đầy đủ, số lượng giao dịch chuyển nhượng, cấp phép còn hạn chế, thông tin giao dịch chưa được công bố rộng rãi. Điều này gây hạn chế cho việc tham chiếu, so sánh và áp dụng các phương pháp định giá, đặc biệt là cách tiếp cận thị trường.

Thứ hai, tài sản trí tuệ không có hình thái vật chất, và giá trị kinh tế của nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như khả năng khai thác thương mại, chiến lược kinh doanh, năng lực quản trị, cũng như diễn biến của thị trường trong tương lai. Do đó, việc xây dựng các giả định đầu vào luôn tiềm ẩn mức độ không chắc chắn cao.

Thứ ba, khó đạt được sự đồng thuận giữa các bên liên quan về giá trị của tài sản trí tuệ. Trong thực tế, cùng một tài sản trí tuệ nhưng có thể tồn tại các quan điểm định giá rất khác nhau giữa các bên liên quan, ví dụ giữa tác giả quyền sở hữu trí tuệ và các nhà đầu tư cùng góp vốn, hoặc giữa bên mua và bên bán trong các giao dịch chuyển nhượng. Sự khác biệt này xuất phát từ kỳ vọng lợi ích, mức độ chấp nhận rủi ro và cách nhìn nhận về tiềm năng khai thác tài sản trong tương lai.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng điểm nghẽn cốt lõi hiện nay nằm ở bối cảnh thị trường và điều kiện thực thi, trong đó nổi bật là vấn đề dữ liệu giao dịch và sự phát triển chưa đầy đủ của thị trường tài sản trí tuệ; đồng thời có liên quan đến việc cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước để nâng cao nhận thức, hiểu biết của xã hội về việc định giá, thẩm định giá tài sản trí tuệ.

“Điểm nghẽn cốt lõi hiện nay nằm ở bối cảnh thị trường và điều kiện thực thi, trong đó nổi bật là vấn đề dữ liệu giao dịch và sự phát triển chưa đầy đủ của thị trường tài sản trí tuệ; đồng thời có liên quan đến việc cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước để nâng cao nhận thức, hiểu biết của xã hội về việc định giá, thẩm định giá tài sản trí tuệ.”

Cục trưởng Nguyễn Minh Tiến

Phóng viên: Theo ông, việc thiếu đội ngũ chuyên gia và chuẩn mực thẩm định giá chuyên sâu cho tài sản trí tuệ cho thấy những hạn chế gì của thị trường dịch vụ thẩm định giá hiện nay?

Cục trưởng Nguyễn Minh Tiến: Trước hết, về chuẩn mực chuyên môn, có thể khẳng định hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam hiện nay đã đầy đủ và tiệm cận thông lệ quốc tế. Việt Nam đã ban hành chuẩn mực riêng về thẩm định giá tài sản vô hình, trong đó bao gồm tài sản trí tuệ, với các cách tiếp cận và phương pháp như thị trường, chi phí, thu nhập – đây cũng chính là các phương pháp phổ biến đang được áp dụng trên thế giới. Như vậy, cơ sở pháp lý và phương pháp luận không phải là hạn chế.

Thứ hai, về năng lực thị trường, hiện nay Việt Nam có khoảng 288 doanh nghiệp thẩm định giá đủ điều kiện hoạt động và khoảng 2.000 thẩm định viên về giá đang hành nghề. Đây là một lực lượng không nhỏ, hoàn toàn có khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường, kể cả đối với các tài sản phức tạp do thẩm định viên hoàn toàn có thể làm việc nhóm để thẩm định giá tài sản trí tuệ với sự cộng tác của các chuyên gia pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyên gia về công nghệ…

Như vậy, thị trường dịch vụ thẩm định giá của Việt Nam không thiếu chuẩn mực thẩm định giá hay năng lực nền tảng. Vấn đề đặt ra hiện nay chủ yếu là các vấn đề đã nêu trên như hạn chế về thông tin, dữ liệu giao dịch thị trường để phục vụ cho hoạt động thẩm định giá, đặc trưng của tài sản trí tuệ, cũng như các bên tham gia thị trường tài sản trí tuệ.

Có thể khẳng định hệ thống Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam hiện nay đã đầy đủ và tiệm cận thông lệ quốc tế. Việt Nam đã ban hành chuẩn mực riêng về thẩm định giá tài sản vô hình, trong đó bao gồm tài sản trí tuệ, với các cách tiếp cận và phương pháp như thị trường, chi phí, thu nhập – đây cũng chính là các phương pháp phổ biến đang được áp dụng trên thế giới.

Trình diễn robot ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phản ánh xu hướng gia tăng giá trị của tài sản công nghệ trong nền kinh tế số.

Trình diễn robot ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phản ánh xu hướng gia tăng giá trị của tài sản công nghệ trong nền kinh tế số.

Phóng viên: Trong thời gian tới, Bộ Tài chính - Cục Quản lý giá sẽ có những định hướng gì nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động định giá tài sản trí tuệ, bảo đảm vừa minh bạch, vừa phù hợp thông lệ quốc tế, thưa ông?

Cục trưởng Nguyễn Minh Tiến: Việc xây dựng cơ chế đặc thù cho định giá tài sản trí tuệ sẽ do cơ quan quản lý nhà nước về khoa học công nghệ chủ trì thực hiện. Còn đối với Hệ thống chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam hiện hành, đặc biệt là Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về cơ bản đã đầy đủ, tiệm cận và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Các chuẩn mực quốc tế cũng thường xuyên được sửa đổi bổ sung để cập nhật theo tình hình thực tiễn; Chuẩn mực thẩm định giá quốc tế hiện hành có hiệu lực từ ngày 1/1/2025.

 Ngoài ra, khuyến khích thẩm định viên nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thẩm định giá theo hướng liên ngành, bổ sung kiến thức về công nghệ, pháp lý sở hữu trí tuệ và tài chính, qua đó đủ năng lực áp dụng linh hoạt các tiêu chuẩn hiện hành vào tài sản trí tuệ.

Cuối cùng, thúc đẩy hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và quy định về sử dụng kết quả thẩm định giá trong các giao dịch như góp vốn, thế chấp, chuyển nhượng…, nhằm bảo đảm kết quả định giá tài sản trí tuệ được thừa nhận và sử dụng thống nhất trong thực tiễn.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Cục trưởng Nguyễn Minh Tiến!

Ngày xuất bản: 15/4/2026
Chỉ đạo sản xuất: Nguyễn Ngọc Thanh
Tổ chức thực hiện: Hoàng Nhật-Nam Đông
Nội dung: Thảo Lê-Minh Phương
Trình bày: Thùy Lâm