Giữ sức sống làng cổ, nhà vườn

Những con đường ở làng Phong Lệ, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang (TP Đà Nẵng) đã từng được che chắn bởi hàng cây vài chục năm tuổi. Dưới bóng mát, nhà cổ nằm vững chãi, chống chịu mưa gió của miền trung. Trải qua nắng gắt mưa dầm, danh xưng làng cổ Phong Lệ ắt hẳn đã giảm bớt một phần tính nguyên vẹn.
Góc làng Phong Lệ hôm nay.
Góc làng Phong Lệ hôm nay.

Làng xưa thay đổi

Mỗi năm trôi qua, những làng quê xưa có mái nhà cổ kính, bóng cây xanh rì dần bị mai một, biến mất. Hành trình níu giữ nét văn hóa làng Việt sẽ đi về đâu và bằng những cách thức gì?

Phải khẳng định rằng, người xưa có những dụng ý sâu xa khi chọn thế đất lập làng Phong Lệ. Tổng thể ngôi làng có hình dạng tròn, nằm giữa cánh đồng lúa xanh mướt. Bao quanh làng chính là lũy tre già đan kín kẽ, người dân lấy đó làm nơi nghỉ ngơi khi ra đồng. Hiện nay, tại vị trí miếu Thái Giám của làng vẫn còn tán tre cho bóng mát kết hợp với gốc cổ thụ trăm năm tuổi. Chính không gian đó là đại diện hình thức của nông thôn Việt Nam hết sức yên bình.

Khi chưa có con đường Quốc lộ 1A và đường ray tàu hỏa chạy qua làng Phong Lệ, vùng đất này rộng mênh mông, nền đất cao hơn mức trung bình chung cả khu vực. Ông Ngô Tất Hiền, Trưởng làng Phong Lệ hiểu vùng đất này hơn ai hết. “Làng Phong Lệ có sự phát triển từ rất sớm. Trong văn tế cổ, phía bắc của làng ngày xưa giáp Hải Vân, phía nam giáp Trà Kiệu, phía tây giáp Núi Chúa và phía đông giáp Ngũ Hành Sơn. Đường quê, làng xóm, nhà cửa, thậm chí những con mương thủy lợi từ xa xưa vẫn đang hiện diện khắp làng. Việc quy hoạch của người xưa rất trí tuệ”, ông Hiền nói.

Trong quá trình phát triển của dân cư ở Phong Lệ, số lượng các ngôi nhà xây kiên cố quanh khu vực đình Thần Nông ngày càng nhiều. Đó là trăn trở của những bậc cao niên khi cảnh quan nơi thờ cúng bị ảnh hưởng. Tầm nhìn thoáng đãng một thời thì nay đã bị che khuất. “Đường sá mở rộng giúp cho bà con đi lại thuận tiện nhưng cũng chính từ đó làm mất đi sự bình yên vốn có ở làng quê. Ngay cả mối quan hệ xã hội trong người dân cũng không còn gần gũi như xưa”, ông Ngô Tất Hiền nhấn mạnh.

Đến năm 2025, toàn huyện Hòa Vang đạt tiêu chí đô thị loại IV, đủ điều kiện trở thành thị xã trực thuộc TP Đà Nẵng. Làng Phong Lệ đứng trước thách thức khi cùng phát triển chung, đồng thời cần giữ vững nét truyền thống mà một làng cổ vốn có. Hình ảnh cây tre đã được mang ra thảo luận. Mục tiêu giữ nguyên vẹn bóng mát chung cho làng dần đi đến thành công khi người dân đang chung sức triển khai tái trồng các bụi tre làng. Ở Phong Lệ, việc định hướng phát triển con người được tập trung phát triển từ lâu. Đứng trước sự đổi thay của xã hội, khi con người quá chú tâm về mặt vật chất sẽ dễ làm mất đi giá trị tinh thần của quê hương.

Theo đó, lớp trẻ trong làng có ý thức tích cực tham gia góp ý việc làng, chuyện xóm. Mối quan hệ giữa cuộc sống mới với câu chuyện truyền thống được thể hiện cụ thể ở lễ hội Mục đồng vừa diễn ra ở Phong Lệ. Nét thú vị của lễ hội này là bởi có sự tham gia đông đảo của thanh thiếu niên. Tiềm thức của lớp trẻ trong mối gắn kết với cộng đồng chung quanh trở nên rõ nét từ chính giá trị đạo đức làng xưa để lại.

Ông Ngô Tất Hiền kiểm tra một ngôi nhà cổ.

Ông Ngô Tất Hiền kiểm tra một ngôi nhà cổ.

Giải bài toán bảo tồn

Câu chuyện giữ vững nét văn hóa, lề lối xã hội ở Thừa Thiên Huế cũng đang đặt ra những bài toán khó. GS, TS, KTS Hoàng Đạo Kính từng khẳng định: “Việc chia cắt đất là con đường ngắn nhất dẫn đến sự kết thúc các ngôi nhà vườn Huế”. Ta có thể hình dung được sự thay đổi kiến trúc, cảnh quan của các làng cổ, nhà cổ dưới sức ép đô thị hóa.

Những năm gần đây, tốc độ đô thị hóa ở Thừa Thiên Huế ảnh hưởng rất nhiều đến các làng cổ, nhà cổ, từ đó tác động đến mọi lĩnh vực như đời sống xã hội, môi trường, cảnh quan, kiến trúc… Đối với kiến trúc, đô thị hóa dẫn đến sự chia cắt đất, diện tích bị thu hẹp, công trình manh mún làm biến dạng, thay đổi không gian. Chung quy lại, môi trường sống và nếp sinh hoạt trong mỗi gia đình bị xáo trộn, thay đổi từ hình thức đến công năng kiến trúc.

TS, KTS Nguyễn Ngọc Tùng, Trưởng Khoa Kiến trúc, Trường đại học Khoa học, Đại học Huế nhìn nhận rằng, Huế được mệnh danh là “thành phố vườn”. Nhà vườn truyền thống là một trong những yếu tố không thể thiếu của quỹ kiến trúc Huế nên chắc chắn góp phần cho mệnh danh nói trên. “Cụ thể được thể hiện qua đặc trưng kiến trúc, nếp sống gia phong của các thành viên trong gia đình. Về đặc điểm kiến trúc, ngôi nhà, con người và cảnh quan sân vườn chung quanh luôn có mối liên hệ hữu cơ, hài hòa; mật độ xây dựng thấp, diện tích các nhà vườn tương đối lớn và chính quyền có những quy định về diện tích tối thiểu cho phép chia cắt thửa; kiến trúc ngôi nhà không đồ sộ, lấn át chung quanh mà là sự hòa trộn bền vững”, ông Tùng nói.

Về nếp sống, lối sống sinh hoạt trong ngôi nhà vườn hình thành tính cách, ứng xử của các thành viên trong gia đình đối với môi trường, cảnh quan sân vườn chung quanh. Mọi cành cây, ngọn cỏ trong khuôn viên nhà được xem như thành viên của gia đình. Chính vì vậy mới có câu chuyện các cành cây trong nhà vườn được đeo khăn tang khi có thành viên trong nhà qua đời.

Điểm mạnh nổi bật trong công tác bảo tồn nhà vườn truyền thống Huế là từ chính quyền, nhà nghiên cứu, chuyên gia cho đến người dân đều quan tâm, có ý thức giữ gìn, bảo vệ nhà vườn truyền thống. Hiện nay, chính quyền địa phương của Thừa Thiên Huế đang tập trung bảo tồn và phát huy giá trị nhà vườn truyền thống Huế thông qua các chính sách ưu đãi. Đơn cử, dự án bảo vệ và phát huy giá trị nhà vườn tiêu biểu đã đưa mức kinh phí cao nhất cho một ngôi nhà là 700 triệu đồng. Bên cạnh đó còn hỗ trợ kinh phí để gia đình trong nhà vườn truyền thống tập huấn, mua giống cây cảnh… nhằm tạo việc làm, bảo quản và đưa vào du lịch.

Các cơ quan, sở, hội cũng thường xuyên tổ chức các hội thảo, tọa đàm để thảo luận, góp ý, sáng kiến trong bảo tồn nhà vườn truyền thống. Một số chủ nhân nhà vườn có ý thức nâng cao việc bảo tồn, bảo quản ngôi nhà, biến không gian sống của gia đình thành địa điểm du lịch văn hóa, tổ chức sự kiện văn hóa, trưng bày nghệ thuật, tọa đàm học thuật… Với những cách làm cụ thể đó đã và đang góp phần lưu giữ và phát huy giá trị truyền thống, nét đẹp của nhà vườn và làng cổ xứ Huế.

Có thể thấy rõ, tính bền vững của cảnh quan nhà vườn Huế thể hiện qua sự liên kết hài hòa giữa con người (thành viên gia đình), ngôi nhà (kiến trúc không lấn át) và cảnh quan chung quanh (thiên nhiên). Riêng cảnh quan, bố cục sân vườn, cây xanh, mặt nước trong ngôi nhà vườn truyền thống dù theo ý thích, quan điểm của chủ nhân nhưng vẫn rất phù hợp với lối sống, với môi trường, điều kiện khí hậu địa phương và cả nguyên tắc phong thủy. Điều này thể hiện qua bố cục, cách sắp đặt cảnh quan sân vườn.

Một chi tiết thú vị được TS, KTS Nguyễn Ngọc Tùng đánh giá cao là các cây gia vị, rau thường trồng gần bếp, thuận tiện cho việc nấu nướng. Cây cao tạo bóng râm thường được trồng ở hướng tây để che nắng. Các cây bonsai, non bộ, bể nước thường đặt trước Nhà Chính để tôn lên vẻ đẹp cho ngôi nhà… Những yếu tố xanh mát đó mở ra lối sống gần gũi với thiên nhiên.

Giá trị của nhà vườn đã được khẳng định. Dù vậy, để bảo tồn đúng và lâu dài cho từng hình ảnh “rặt” xứ Huế đó sẽ cần có chính sách ưu đãi phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy những tiềm năng. “Các định hướng đưa ra nên có sự hài hòa và được đánh giá từ nhiều góc độ, từ Bottom-up cho đến Top-down. Cần có quy hoạch vùng, cụm và có quy hoạch vùng đệm bảo vệ. Bên cạnh đó, không chỉ bản thân những ngôi nhà vườn truyền thống mà cả các công trình ở chung quanh cũng cần có các chính sách, chế tài quản lý. Song song đó phải tham khảo các dự án, những trường hợp tương tự trong và ngoài nước”, TS, KTS Nguyễn Ngọc Tùng gợi mở.

Có thể bạn quan tâm

Người S'tiêng vẫn giữ được kỹ thuật dệt truyền thống.

Giữ lửa truyền thống từ những đứa con của thần (Kỳ 1)

Người S’tiêng có thể xem như một tộc người có mặt lâu đời ở Việt Nam. Nhiều tài liệu cho thấy dấu vết của họ đã có từ thời đồ đá cũ. Người S’tiêng ở Bình Phước đang có số lượng đông nhất. Kể từ sau khi Bình Phước sáp nhập với Đồng Nai, một dải rừng rộng lớn đã là “thành phố”. Nhưng người S’tiêng, không vì mình lên thành phố mà khác trước.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Bình góp công sức đưa dòng tranh Kim Hoàng trở lại.

Góp sức hồi sinh tranh Kim Hoàng

Dành nhiều tình cảm cho văn hóa quê hương, bên cạnh nhiều nỗ lực của những người khác, nghệ nhân Nguyễn Thị Bình (xã Sơn Đồng, Hà Nội) đang từng ngày phục dựng, thúc đẩy dòng tranh dân gian Kim Hoàng (xã Vân Canh, huyện Hoài Đức cũ) phát triển trở lại.

Chị Hoan kiểm tra miến phơi khô tự nhiên dưới nắng.

Người phụ nữ Tày đưa miến dong vượt đại dương

Từ đại ngàn xã Côn Minh (Thái Nguyên), người phụ nữ dân tộc Tày Nguyễn Thị Hoan đã viết nên câu chuyện cổ tích cho nông sản quê hương. Không cam chịu nhìn sản vật quý của bản làng bị ép giá, chị tìm cách biến những sợi miến mộc mạc thành “sợi vàng” chắp cánh cho ước mơ thoát nghèo vùng cao.

Vườn măng cụt lão của anh Năm Trợ.

Mảnh hồn làng treo bên phố

Trước khi sáp nhập với TP Hồ Chí Minh, Bình Dương là tỉnh duy nhất có 5 thành phố trực thuộc tỉnh.

Tỷ lệ đô thị hóa của Bình Dương ở tốp đầu cả nước.
Khi những tòa cao ốc mọc lên, không gian làng xã sẽ bị thu hẹp lại. Nhưng điều ấn tượng là, chỉ cách trung tâm không xa, vẫn còn những không gian rất Nam Bộ, như gợi lại một thời làng quê xa xưa.
Làng vẫn ở đó. Nhưng làng cũng đang phải đối mặt với bài toán tồn tại.

Nghề gõ sầu đem lại thu nhập cao cho nhiều thợ.

Theo chân thợ gõ vườn sầu

“Đây nhé, cái trái này gõ có độ bồng, cũng phải bảy tuổi rưỡi. Trái này nó âm hơn, trầm hơn, thì bảy tuổi tám. Thế là đủ điều kiện cắt rồi”, anh Nguyễn Long Thiên Phúc vừa lấy cán dao gõ trên vỏ quả sầu riêng, vừa giải thích. 44 tuổi, 17 năm anh Phúc vắt vẻo trên những cành sầu riêng, từ thợ học việc, thợ chụp, rồi trở thành thợ gõ sầu kỳ cựu ở Tiền Giang.

Một khúc sông Ninh Cơ nhìn từ trên cao.

Lửa đỏ bên dòng Ninh Cơ

Dòng sông ấy lặng lẽ chảy qua những miền quê Xuân Trường, Hải Hậu, Trực Ninh, Nghĩa Hưng của tỉnh Nam Định cũ, mang phù sa sông Hồng ra biển lớn. Người dân vùng hạ lưu gọi đó là sông Ninh Cơ. Bao đời nay, sông Ninh Cơ không chỉ chở nặng phù sa mà còn chuyên chở cả nhịp sống, sinh kế và khát vọng mưu sinh của những người dân làng quê ven bờ.

Máy bay An-24 có lịch trình bay Gia Lâm - Đà Nẵng - Tân Sơn Nhất.

Phút giây sinh tử của người chiến sĩ an ninh hàng không

Không lâu sau khi máy bay cất cánh từ đường băng sân bay Đà Nẵng, bọn không tặc ra tay hành động. Hai tên phía trước đứng dậy rút lựu đạn, hai tên phía sau hét lớn, khống chế hành khách. Trong khoang chiếc máy bay 45 chỗ ngồi chật chội, không khí hoảng loạn, tiếng la hét, tiếng kêu khóc lẫn trong tiếng quát tháo đe dọa...

Thu hoạch chè ở Tả Củ Tỷ.

Đánh thức hương chè cổ giữa ngàn mây Tả Củ Tỷ

Trong bảng lảng sương mây bao phủ khắp đỉnh Tả Củ Tỷ (Lào Cai), nơi những dãy núi đá vôi dựng đứng như những bức tường thành ngăn cách nơi này với thế giới bên ngoài, có một loài cây đã bám rễ sâu vào lòng đất từ hàng trăm năm trước. Đó là chè Tuyết Shan cổ thụ - báu vật của đại ngàn.

Đại tá phi công Hoàng Biểu.

Ánh sao đêm trên cung lửa

Có những chuyến bay đêm trên vùng trời Khu 4, từ độ cao vài nghìn mét, Đại tá, phi công Hoàng Biểu nhìn xuống mặt đất chỉ thấy một màu đen đặc quánh. Không làng mạc, không ánh đèn. Chỉ có mùi của chiến tranh ngột ngạt và đáng sợ.

Đảo Trường Sa Lớn. Ảnh: HẢI NAM

Những hòn đảo đang lớn (kỳ 1)

Không phải mọi điều ở quần đảo Trường Sa đều quá mới mẻ. Nhưng vẫn có những câu chuyện đủ để giữ lại, dù là người mới đến đó một lần hay đã nhiều lần.

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Hàng “độc” Nam Phi... xa mà gần

Buôn lậu sừng tê giác, ngà voi hay cao hổ, báo, xương sư tử… vốn là loại hình buôn bán cực kỳ đặc biệt bởi “mặt hàng kinh doanh” này được cả thế giới bảo vệ, thu dung và chăm sóc.

Cựu chiến binh Trần Chiến Chinh (bên phải) và cựu chiến binh Lê Phú Tháo thời trẻ.

Ký ức đất lửa Hòa Vang (kỳ 1)

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là vùng ven thành phố Đà Nẵng, Hòa Vang đã trở thành chiếc răng nanh thép cắm sâu vào yết hầu quân thù. Giữa vòng vây siết nghẹt của đồn bốt, quân và dân nơi đây đã viết nên bản hùng ca bất tử.

Trẻ khiếm thính tham gia hoạt động ngoại khóa.

Rút ngắn khoảng cách để nối dài yêu thương

“Trong hành trình 14 năm vừa làm mẹ vừa đồng hành cùng con, dù đã gặp nhiều người cùng hoàn cảnh nhưng đối với gia đình, con vẫn là riêng biệt nhất”, chị Nông Thị Tình, thành viên nhóm cha mẹ trẻ khiếm thính ở Thái Nguyên chia sẻ.

TS Chu Mạnh Trinh (ngoài cùng bên phải) đi thực tế tại làng gốm Mỹ Thiện.

Ông tiến sĩ của du lịch cộng đồng

“Phải bảo vệ tuyệt đối môi trường tự nhiên”, đó là quan điểm cứng rắn của TS Chu Mạnh Trinh, giảng viên Khoa Sinh - Nông nghiệp - Môi trường Trường đại học Sư phạm (Đại học Đà Nẵng).