Giảm gánh nặng đầu tư nhờ ứng dụng công nghệ

Theo các chuyên gia, mục tiêu đến năm 2030 có 80% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch theo Kết luận số 36-KL/TW của Bộ Chính trị về Bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, là thách thức rất lớn.
Dự án ứng dụng công nghệ RO cung cấp nước uống trực tiếp cho hơn 3.200 học sinh, cán bộ, giáo viên ở Hà Giang. Ảnh: Trọng Toàn
Dự án ứng dụng công nghệ RO cung cấp nước uống trực tiếp cho hơn 3.200 học sinh, cán bộ, giáo viên ở Hà Giang. Ảnh: Trọng Toàn

Trong khi đó, nguồn lực đầu tư cho công tác cấp nước sinh hoạt tại khu vực này lại vẫn đang chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước. Bởi vậy, những giải pháp lọc nước tại chỗ ứng dụng các công nghệ mới được xem như một hướng mở bền vững, giúp người dân được sử dụng nước sạch với chi phí hợp lý.

Những mô hình mẫu

Do khai thác quá mức, nguồn nước ngầm vốn chiếm tới 40% lượng nước sinh hoạt đô thị đang cạn kiệt từng ngày. Trong khi đó, nguồn nước mặt từ 11 lưu vực sông lớn lại phải gánh chịu lượng lớn nước thải công nghiệp chưa qua xử lý. Đó chính là nguyên nhân khiến chất lượng nước suy giảm đến mức báo động.

Sau thời gian phát triển nóng, hệ thống cấp nước sạch tại Việt Nam tồn tại chênh lệch rõ rệt giữa đô thị và nông thôn. Trong khi người dân sống tại các thành phố lớn được bảo đảm nhu cầu nước sạch, thì ở những vùng ven đô, nhiều khu công nghiệp và khu tái định cư vẫn chưa được tiếp cận đầy đủ nguồn nước sạch. Ở nông thôn, phần lớn hệ thống cấp nước chưa được đầu tư đồng bộ, khiến nhiều gia đình phải “sống chung” với nước giếng khoan, nước mưa, hoặc thậm chí là nước sông. Những nguồn nước ấy tiềm ẩn vô vàn nguy cơ ô nhiễm vi khuẩn, hóa chất và kim loại nặng, là nguyên nhân gây ra hàng loạt căn bệnh truyền nhiễm và mãn tính, đe dọa sức khỏe cộng đồng.

Là tỉnh miền núi cực bắc Tổ quốc, khoảng 98% nguồn cấp nước sinh hoạt ở Hà Giang là nguồn nước mưa, nước mặt từ khe, núi, ao hồ theo các loại hình cấp nước tự chảy, hồ treo, lu, bể, máng... Đây cũng là địa phương có tỷ lệ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh thấp (58,6%), tỷ lệ sử dụng nước sạch theo Quy chuẩn Việt Nam chỉ đạt 12%.

Từ năm 2021, Dự án “Tăng cường tiếp cận nước sạch và vệ sinh môi trường cho trường học và người dân trên địa bàn tỉnh Hà Giang” đã được triển khai thí điểm tại năm trường học. Quá trình khai thác và vận hành tới giờ cho thấy: Năm mô hình xử lý, cấp nước sạch và nước uống trực tiếp ứng dụng công nghệ thẩm thấu ngược (RO) được lắp đặt với chi phí không cao, vật tư thay thế thấp. Trong đó, vốn từ nhà tài trợ là 580,29 triệu đồng (chiếm 82,2%), vốn đối ứng của địa phương là 125,92 triệu đồng (chiếm 17,8%). Công tác vận hành, bảo trì đơn giản, điện năng tiêu thụ thấp, phù hợp mô hình tự quản của mỗi đơn vị trường học, cũng như cụm dân cư.

Bên cạnh công nghệ RO, mô hình lọc sinh học Bio-sand được ứng dụng tại đây cũng giúp hơn 15.000 hộ dân tiếp cận nước sạch với chi phí vô cùng hợp lý, chỉ 500.000 đồng/bể, nhờ sử dụng vật liệu địa phương như cát, sỏi và than hoạt tính. Hai công nghệ trên được xem như những mô hình kiểu mẫu để các địa phương khác học tập và nhân rộng, góp phần nâng cao tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch, giúp tăng cường sức khỏe và cải thiện chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.

Chủ động với công nghệ xử lý nước tại chỗ

Theo các chuyên gia, công nghệ RO, với khả năng lọc bỏ hoàn toàn tạp chất, là “giải pháp vàng” cho những khu vực có nguồn nước ô nhiễm nặng, đặc biệt là nước giếng khoan. Tại các đô thị lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi nước máy có thể còn dư lượng clo, RO giúp bảo đảm chất lượng nguồn nước phục vụ nhu cầu ăn uống hằng ngày.

Trong khi đó, công nghệ UF (Ultra Filtration, là công nghệ phân tách các chất gây ô nhiễm ra khỏi nguồn nước nhờ sử dụng màng lọc UF) với ưu điểm giữ lại khoáng chất tự nhiên, lại đặc biệt phù hợp với những vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng của mưa lũ, nơi nước bị đục và nhiễm nhiều chất hữu cơ. Đây là giải pháp lý tưởng với miền trung do công nghệ này không cần năng lượng, phù hợp với tình trạng mất điện mùa lũ. Ngoài ra, các hệ thống lọc nano công suất nhỏ cũng góp phần mang nước uống trực tiếp đến 200 trường học vùng cao, giúp giảm đến 45% số ca tiêu chảy ở trẻ em tại Quảng Nam.

Ông Đoàn Minh Đức, Trưởng đại diện KSO - đơn vị chuyên kết nối các công nghệ mới của Hàn Quốc với doanh nghiệp Việt Nam, nhận định: Nhiều nhà sản xuất và cung cấp giải pháp xử lý nước sinh hoạt đã chủ động nghiên cứu, tích hợp công nghệ tiên tiến vào sản phẩm. Điều này cho thấy sự linh hoạt, tư duy nhạy bén trong quá trình phát triển, nhằm đáp ứng sát nhu cầu thực tế của người dân. Bên cạnh các công nghệ lọc nước sẵn có, việc tiếp thu và ứng dụng công nghệ hiện đại từ các quốc gia phát triển không chỉ giúp doanh nghiệp nhanh chóng mở rộng thị phần, nâng cao năng lực cạnh tranh, mà còn tạo nền tảng cho quá trình nội địa hóa và phát triển công nghệ trong tương lai.

Một số công nghệ lọc nước hiện đại từ Hàn Quốc đã được nghiên cứu và thử nghiệm tại Việt Nam nhằm đáp ứng đa dạng nhu cầu sử dụng nước sạch. Trong đó, công nghệ lọc RO đã được tối ưu hóa để giảm tỷ lệ nước thải, giúp tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu suất lọc.

Ngoài ra, các hệ thống lọc tổng cũng được thiết kế theo nhu cầu riêng của từng nhóm khách hàng, như chung cư, khu vực chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, xâm nhập mặn. Riêng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, công nghệ điện phân nước mặn đang mở ra giải pháp đột phá trong việc xử lý nguồn nước.

Không dừng lại ở đó, vật liệu lọc cao cấp cũng góp phần nâng cao chất lượng nước, loại bỏ tối đa tạp chất và vi khuẩn, bảo đảm nguồn nước sạch đạt tiêu chuẩn cao nhất. Những công nghệ này hứa hẹn sẽ mang đến giải pháp bền vững, góp phần cải thiện chất lượng nước sinh hoạt tại Việt Nam.

Rõ ràng, công nghệ xử lý nước tại chỗ đang ngày càng được ưa chuộng bởi những lợi ích thiết thực mà nó mang lại. Thay vì phụ thuộc vào hệ thống cấp nước tập trung, vốn còn nhiều hạn chế, công nghệ xử lý nước tại chỗ cho phép mỗi gia đình, mỗi cộng đồng chủ động tạo ra nguồn nước sạch cho riêng mình.

Đây không chỉ là hướng đi giúp giảm tải áp lực lên hệ thống hạ tầng quốc gia mà còn tiết kiệm chi phí, góp phần cải thiện sức khỏe toàn diện, nâng cao chất lượng sống cho người dân, nhất là khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Có thể bạn quan tâm

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.