Dưới chân cầu Long Biên

Đó là một chiều đông cuối năm với cái nắng mật ngọt đang thay thế cho cơn gió bấc tràn xuống bờ đê, cái nắng ấy tung tăng nhảy múa như một đứa trẻ bị nhốt trong nhà nhiều giờ được mẹ mở cửa cho quà, cái nắng ấy dường như muốn bật tung chiếc then cài tạm bợ của những miếng gỗ chắp vá, hình thành ra thứ được gọi là cửa giả nơi những nóc nhà liêu xiêu xóm ven sông này.
Ảnh: LÊ MINH
Ảnh: LÊ MINH

Người đàn bà tựa vào chiếc ghế nhựa mầu xanh nhìn tôi với ánh mắt không dò xét, có đôi phần cởi mở, thân thiện. Nhưng có lẽ bà không khỏi thắc mắc khi tôi lang thang một mình qua những dãy nhà trọ lụp xụp, bãi đất trống với ngổn ngang thùng xốp, xe kéo và những tấm prô xi-măng cũ kỹ.

Lại gần làm quen, tôi biết bà quê ở Bắc Giang và đã ngoài 60 tuổi. Khuôn mặt đen sạm, loang lổ những đồi mồi, những vết chân chim xếp chồng lên nhau như đã được định vị đúng chỗ, nhiều nhất là ở khóe mắt, vầng trán. Bỗng tôi quá ấn tượng với người đàn bà bởi nụ cười luôn thường trực trên gương mặt khắc khổ, bà nhìn tôi bằng nụ cười hiền hậu, ánh mắt hướng về phía sông Hồng xa xăm... Có cảm giác cái nhìn ấy không bờ bến, không điểm dừng, nó cứ mênh mông hun hút một điều gì đó vô tận, mà không thốt bằng lời.

Thế rồi bà kể cho tôi nghe về cuộc sống của dân thập phương chọn nơi đây là bến đỗ, đa phần là những người lao động nghèo, trong đó có cô Thu Ngọc. Thu Ngọc sinh năm 1992 và làm mẹ đơn thân của 3 đứa trẻ, đứa lớn nhất 10 tuổi, đứa nhỏ nhất mới 3 tuổi đầu.

Cứ bảy, tám giờ tối sau khi ru đứa nhỏ nhất say ngủ thì bà và mọi người cùng cô Thu Ngọc sẽ đi ra chợ đầu mối. Ai thuê gì thì làm nấy, bốc hàng, kéo hàng, bê những thùng xốp, những sọt hoa quả từ trên các xe ô-tô tải xuống cho chủ hàng... May mắn thì mỗi người kiếm được đôi ba trăm nghìn đồng là tươm rồi, cũng có đêm vất là vậy mà chẳng ai thuê. Người trẻ thì còn dễ chứ có người già lụ khụ không bê, không kéo nổi những bao hàng nặng, đành phải đi nhặt những vỏ bìa, nhặt nylon để bán kiếm vài chục. Không khí chợ đầu mối về đêm nhộn nhịp khác hoàn toàn với ban ngày. 4, 5 giờ sáng sau một đêm vất vả, họ trở về ngủ để lại sức, cuộc sống cứ thế xoay tròn với những cuộc đời tồn tại ở đây. Nên lúc này xóm im ắng lắm, có chăng chỉ vài đứa trẻ tha thẩn chơi với những chú cún hiền lành, hoặc là một vài người già khó ngủ, lầm lụi như một bức tranh ngược với sự sầm uất, nhộn nhịp bên kia phố.

Cơn gió nhẹ thổi từ mặt sông chạy lên ập vào tôi và đám cải vàng cùng lũ trẻ, tôi bỗng nặng lòng với những ánh mắt ngây thơ ấy, những ánh mắt chưa có giấy khai sinh, chưa được đi học ở nơi này. Tôi hỏi bà Tết nhất thì sẽ thế nào, bỗng khuôn mặt bà bừng sáng với nụ cười nhưng hiền hậu, vẫn ánh mắt như gió sông man mác. Có lẽ với người đàn bà ấy thì ngày nào cũng là Tết, chỉ cần có sức khỏe để mỗi đêm kiếm được vài trăm nghìn đồng, sáng sáng trở về thấy các cháu được ăn no, vui cười và được đi học thì lúc nào với bà cũng là Tết rồi.

Phía mắt tôi là lênh đênh những con thuyền chòng chành bé nhỏ, là nhấp nhô những căn nhà tạm, là chiếc cầu chứng nhân của thời gian, chiếc cầu với một gam mầu trầm ắng ngày ngày nằm nghe những mảnh đời trôi, những bộn bề thăng trầm, những lần tàu chia ly và hội ngộ...

Bên sông, bông cải cuối mùa vàng lên mặt trời, vài cây đào đã bung nụ trổ hoa.

Có thể bạn quan tâm

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.

Minh họa: KIM DUẨN

Màu của Tết

Mùi của Tết thường đến khi gian bếp thơm mùi bánh chưng sôi ùng ục, khi những chiếc áo cũ mẹ mang ra phơi vẫn vương mùi băng phiến, khi mùi trầm ngan ngát theo gió thổi qua mỗi gian nhà. Khi ấy, Tết đã cận kề. Nhưng màu của Tết thì đến sớm hơn nhiều…

Anh Hiển (hàng dưới) chụp hình lưu niệm cùng du khách tại homestay của mình.

Chuyện của Hiển

Ngồi ngẫm lại chuyện gần 10 năm trước, Dương Vĩnh Hiển, chủ homestay HT Ánh Trung tại Làng Văn hóa Du lịch Cộng đồng Dân tộc H'Mông (xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang) vẫn thấy mình “Sao liều thế!”.

Chợ Tết. Ảnh: NGUYỆT ANH

Chợ tháng Chạp

Chợ tháng Chạp không giống bất kỳ phiên chợ nào trong năm. Ngay từ tinh mơ, khi sương còn lẫn vào mùi rơm ẩm và khói bếp, những con đường dẫn về chợ đã lấp ló bóng người.

Hoài niệm. Ảnh: HẢI ANH

Những món đồ ở lại cùng ký ức

Tết lại sắp về. Cái rét cuối năm chưa kịp chạm ngõ đã thấy trong nhà xôn xao chuyện dọn dẹp. Con cháu bảo nhau lau bàn thờ, sắp lại tủ, phân loại đồ đạc: Cái nào dùng, cái nào bỏ, cái nào “cho đi”. Trong danh sách ấy, có rất nhiều thứ mà người trẻ gọi là “đồ cũ”, còn người già thì gọi bằng một cái tên khác: Kỷ niệm.

Phố đông. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bao dung phố mùa đông

Những cơn mưa dầm xuất hiện. Từng cơn gió lạnh ùa khắp các con đường. Mỗi chiều về ngang phố, thoảng nghe tiếng thì thầm của lá, tiếng chim kêu run rẩy. Ở phố, sự có mặt của mùa đông dường như ít nhận ra từ đặc trưng của thiên nhiên mà thường tạo nên bởi rung động, xôn xao của cảm xúc con người.

Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG

Phúc nhà

Mẹ bàn với tôi Tết này xin phép nhà nội, bọn trẻ rồi vợ chồng con cái ở lại ăn Tết với mẹ, có gì để mẹ nói đỡ với ông bà bên ấy một tiếng. Sau bao nhiêu sóng gió vừa xô đến với gia đình tôi, tóc mẹ trắng như cước và lưng mẹ như oằn hẳn xuống.

Kẻ cắp ở cuối làng

Ở quê tôi ngày ấy, cái nghèo không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà nó còn tồn tại một thứ định kiến vô hình, tàn nhẫn. Những gia đình sống ở cuối làng, nơi con đường đất cụt ngủn và cỏ dại mọc lút đầu gối, thường mặc nhiên bị coi là "vùng tối" của cả cộng đồng.

Các món chè. Ảnh: NAM NGUYỄN

Nhớ sao vị ngọt ngào thơ ấu

Một sáng cuối tuần, tôi ghé khu chợ nhỏ quen thuộc gần nhà. Đang mải miết suy nghĩ mua nguyên vật liệu gì thì tiếng rao lảnh lót “Ai chè đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh, thập cẩm không?” của một người phụ nữ quẩy quang gánh trên vai đã làm tôi khựng lại.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Người khách đến nhà

Nắng tháng 5 dát vàng mái phố. Ngôi biệt thự số 7 Rue Jean Soler nằm ngay góc giao với Rue Jauréguiberry dường như nổi bật thêm lên bởi mầu sơn vàng. Ông Duot Bertheur (Đuy ô), người chủ của ngôi biệt thự, dậy sớm, đứng trên ban-công tầng 2, để ngắm nắng sớm mai.

Nhà khoa học chân chính

Đó là biệt danh lũ chúng tôi đặt cho anh khi mon men lên Thư viện Quốc gia mượn sách. Giữa môi trường tri thức trăm phần trăm, giáo sư, tiến sĩ "đông như quân Nguyên", anh vẫn nổi bật bởi vẻ đắm đuối suy tư những điều cao siêu đến thoát tục.

Ảnh: SONG ANH

Mảnh vườn xưa

Tôi có thói quen khắc số năm sau ngày bà mất lên thanh xà ngang trong nhà vào mùa cây thay lá.