“Nhiên liệu cầu nối” trong chuyển dịch năng lượng
Theo ông Nguyễn Văn Nhựt, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Khánh Hòa, chuyển dịch năng lượng không phải là câu chuyện thay thế nguồn điện hóa thạch bằng năng lượng tái tạo, mà khi tỷ trọng điện gió, điện mặt trời ngày càng tăng, yêu cầu đặt ra là phải có những nguồn điện đủ ổn định để bù đắp sự biến động của các nguồn năng lượng phụ thuộc thời tiết. Trong bức tranh đó, điện khí LNG được xem như một “nhiên liệu cầu nối”, vừa bảo đảm khả năng cung ứng điện, vừa góp phần giảm phát thải so với nhiệt điện than.
Theo Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII điều chỉnh), nhu cầu điện thương phẩm của cả nước đến năm 2050 có thể đạt 1.237,7-1.375,1 tỷ kWh. Đáng chú ý, các ngành công nghiệp và xây dựng dự tính chiếm khoảng 50-60% tổng nhu cầu điện năng. Những con số này cho thấy năng lượng sẽ không chỉ là đầu vào của sản xuất mà còn là một trong những điều kiện quyết định năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Tinh thần đó được cụ thể hóa tại Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết xác định năng lượng phải “đi trước một bước”, đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân; đồng thời định hướng phát triển công nghiệp khí, ưu tiên hạ tầng phục vụ nhập khẩu, dự trữ và tiêu thụ LNG.
Với Khánh Hòa, cùng với nhiều dự án điện mặt trời, điện gió đang hoàn thiện để đưa vào vận hành thương mại, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận đang tập trung triển khai, Nhà máy điện khí LNG Cà Ná công suất 1.500MW, dự tính cung cấp khoảng 9 tỷ kWh điện hằng năm cho hệ thống điện quốc gia cũng đang được thúc đẩy.
“Mắt xích” của hệ sinh thái năng lượng
Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Khánh Hòa Trịnh Minh Hoàng, dự án Nhà máy điện khí LNG Cà Ná (LNG Cà Ná) đã chính thức được phê duyệt nhà đầu tư là Liên danh Trung Nam-Sideros River. Với tổng vốn đầu tư hơn 57.384 tỷ đồng, dự án gồm nhà máy điện, kho cảng LNG công suất từ 1-1,2 triệu tấn/năm cùng các hạng mục phụ trợ. Dự tính khởi công vào cuối năm 2026 và hướng tới vận hành vào cuối tháng 12/2030.
Những con số về công suất, vốn đầu tư hay sản lượng điện chỉ là một phần của câu chuyện. Điều đáng kỳ vọng hơn là vị trí của LNG Cà Ná trong không gian phát triển mới của Khánh Hòa.
Sở hữu cảng biển nước sâu Cà Ná, Khu công nghiệp Cà Ná cùng hệ thống logistics đang từng bước hình thành, khu vực này có điều kiện phát triển cả chuỗi giá trị xoay quanh ngành năng lượng: Từ nhập khẩu, tồn trữ LNG đến sản xuất điện, cung ứng dịch vụ hậu cần, công nghiệp hỗ trợ và các ngành dịch vụ liên quan. Những mảnh ghép ấy được kết nối đồng bộ sẽ tạo nên một hệ sinh thái năng lượng có sức lan tỏa. Đây cũng là cơ sở để Khánh Hòa hướng tới hình thành một trung tâm LNG của khu vực miền trung và miền nam, từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng không gian phát triển công nghiệp.
Kỳ vọng của tỉnh là khi dự án LNG Cà Ná hoàn thành, sẽ trở thành hạt nhân thúc đẩy phát triển công nghiệp, dịch vụ và hạ tầng; tạo tiền đề hình thành chuỗi giá trị năng lượng hoàn chỉnh, gắn với các nguồn năng lượng tái tạo đang phát triển mạnh trên địa bàn.
Động lực mới cho tăng trưởng xanh
Đối với một địa phương đang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, câu chuyện năng lượng càng trở nên cấp thiết. Không có nguồn điện ổn định, sẽ khó mở rộng sản xuất; không có hạ tầng năng lượng hiện đại, khó thu hút những dòng vốn đầu tư mới; và càng khó hình thành những ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao.
Vì thế, LNG Cà Ná được khẳng định là dự án trọng điểm quốc gia trong lĩnh vực năng lượng. Khi đi vào vận hành sẽ đóng góp nhiều vào ngân sách địa phương, đồng thời tạo việc làm cho hàng nghìn người và thúc đẩy hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, xanh và bền vững.
Từ góc nhìn của doanh nghiệp, ông Nguyễn Tâm Tiến, Tổng Giám đốc Tập đoàn Trung Nam, cho rằng LNG Cà Ná là dự án đầu tiên trúng thầu thông qua đấu thầu quốc tế trong Quy hoạch điện VIII. Đây được xem là một dấu mốc quan trọng đối với doanh nghiệp cũng như ngành năng lượng Việt Nam. Khi vận hành cùng các dự án điện khí khác, LNG Cà Ná sẽ góp phần bổ sung nguồn cung, giải bài toán an ninh năng lượng quốc gia và hiện thực hóa các mục tiêu được đặt ra tại Nghị quyết số 70-NQ/TW.
Ông Nguyễn Văn Nhựt, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Khánh Hòa cho biết, theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, giai đoạn 2025-2035, cả nước dự tính phát triển 22 dự án nhiệt điện LNG. Riêng đến năm 2030, có 15 dự án dự tính được triển khai, đưa vào vận hành thương mại với tổng công suất 22.524MW, trong đó có LNG Cà Ná. Khánh Hòa đang tập trung biến những trang quy hoạch về LNG trên giấy thành những công trình hiện hữu, tạo nên những kWh điện thực tế phục vụ sản xuất và đời sống.
Để LNG Cà Ná thật sự phát huy vai trò “nhiên liệu cầu nối”, Khánh Hòa đang tháo gỡ những vướng mắc liên quan cơ chế, chính sách; đồng thời đồng hành, hỗ trợ và đôn đốc nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ. Cùng với tiến độ, tỉnh đặt yêu cầu tuân thủ nghiêm các quy định pháp luật, bảo đảm chất lượng công trình, an toàn và bảo vệ môi trường.
Bởi giá trị của LNG Cà Ná không phải đo bằng 1.500MW công suất hay khoảng 9 tỷ kWh điện mỗi năm, mà lớn hơn nằm ở khả năng kết nối những nguồn lực đang có, mở rộng không gian phát triển, tạo dựng một nền tảng năng lượng đủ mạnh cho chặng đường tăng trưởng mới.
Từ Cà Ná, một chuỗi giá trị mới đang được kỳ vọng hình thành: khí LNG - điện khí-cảng biển-logistics-công nghiệp-dịch vụ. Nếu được triển khai đồng bộ, hiệu quả, dự án sẽ là điểm tựa để Khánh Hòa phát huy lợi thế, định hình trung tâm năng lượng và công nghiệp mới, góp phần đưa mục tiêu tăng trưởng xanh, hiện đại và bền vững sớm trở thành hiện thực