Từ những phụ phẩm tưởng chừng bỏ đi như rơm rạ, phân gia súc đến việc ứng dụng hệ thống tự động trong chăn nuôi, xã Tân Bình, thành phố Cần Thơ đang từng bước thay đổi phương thức sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, tiết kiệm chi phí và thân thiện với môi trường.
Biến phụ phẩm thành nguồn nguyên liệu
Đây cũng là hướng đi được địa phương chú trọng trong quá trình phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đồng thời khuyến khích người dân ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất.
Một trong những mô hình tiêu biểu đang được triển khai tại Tân Bình là mô hình kinh tế tuần hoàn của Hợp tác xã Ngũ Thường Mekong. Thay vì xem rơm rạ và chất thải chăn nuôi là những thứ cần xử lý, hợp tác xã đưa các nguồn nguyên liệu này trở lại chuỗi sản xuất.
Theo bà Lữ Thị Nhật Hằng, Giám đốc Hợp tác xã Ngũ Thường Mekong, mô hình được triển khai từ năm 2022 trên diện tích khoảng 7.000m², hình thành mối liên kết giữa trồng trọt và chăn nuôi.
Rơm được thu gom từ đồng ruộng của người dân để làm thức ăn cho bò. Phân bò sau đó được phối trộn với rơm mục để nuôi trùn quế. Khi thu hoạch, trùn quế tiếp tục được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm và thủy sản. Phân trùn quế được dùng bón cỏ voi phục vụ chăn nuôi bò, đồng thời bón cho rau sạch và cung cấp cho người dân sản xuất.
Theo bà Hằng, mô hình mang lại doanh thu khoảng 1 tỷ đồng/năm, lợi nhuận khoảng 300 triệu đồng. Nếu cùng diện tích chỉ sản xuất lúa, hiệu quả kinh tế thấp hơn đáng kể.
Không chỉ tạo thêm giá trị từ cùng một nguồn nguyên liệu, cách làm này còn góp phần hạn chế việc đốt rơm sau thu hoạch, qua đó giảm khói bụi và khí thải. Quan điểm của mô hình là tận dụng phụ phẩm làm đầu vào cho những công đoạn sản xuất tiếp theo, vừa giảm chi phí vừa nâng giá trị nông nghiệp.
Tuy nhiên, đợt triều cường lớn cuối năm 2025 khiến chuỗi sản xuất trước đây bị gián đoạn. Hợp tác xã hiện đang từng bước khôi phục hoạt động và mở rộng thêm các mô hình mới.
Từ tháng 2/2026, Hợp tác xã Ngũ Thường Mekong triển khai thêm mô hình nuôi gà tre thương phẩm. Hiện hợp tác xã có 4 trại, mỗi trại khoảng 3.000 con và trung bình mỗi tháng xuất khoảng 3.000 con gà.
Điểm đáng chú ý là công nghệ được áp dụng vào nhiều khâu chăn nuôi. Hệ thống máng ăn, máng uống tự động giúp giảm nhân công. Thức ăn được đưa từ silo xuống máng thông qua hệ thống cảm biến và tự động bổ sung khi lượng thức ăn giảm.
Theo bà Hằng, tự động hóa không chỉ giúp giảm công lao động mà còn hạn chế việc người nuôi phải ra vào chuồng trại thường xuyên, từ đó giảm nguy cơ đưa mầm bệnh vào đàn gà.
Khâu xử lý chất thải cũng được chú trọng. Cơ sở sử dụng đệm lót sinh học để xử lý phân gà, hạn chế mùi hôi. Phần phân sau xử lý được tận dụng làm phân bón. Nước vệ sinh chuồng trại được thu gom, lắng và xử lý trước khi sử dụng tưới cỏ, cây trồng.
Như vậy, công nghệ không chỉ được nhìn ở góc độ tăng năng suất mà còn gắn với yêu cầu giảm chất thải, tiết kiệm nguồn lực và kiểm soát môi trường trong sản xuất.
Từ nhà màng đến mã số vùng trồng
Không riêng mô hình của Hợp tác xã Ngũ Thường Mekong, tại Tân Bình đã xuất hiện nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao như trồng dưa lưới trong nhà màng, tưới nhỏ giọt và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
Địa phương cũng quan tâm xây dựng mã số vùng trồng nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn phục vụ thị trường. Theo anh Huỳnh Văn Toàn, chuyên viên Phòng Kinh tế xã Tân Bình, ứng dụng công nghệ cao có thể giúp nâng giá trị sản phẩm và giảm chi phí đầu vào về lâu dài.
Tuy nhiên, hạn chế hiện nay là chi phí đầu tư ban đầu tương đối lớn. Vì vậy, những mô hình này phù hợp hơn với hợp tác xã, doanh nghiệp hoặc các đơn vị có khả năng tổ chức sản xuất ở quy mô lớn.
Để người dân có thêm điều kiện tiếp cận phương thức sản xuất mới, xã phối hợp Trung tâm Khuyến nông và Dịch vụ nông nghiệp hỗ trợ xây dựng mô hình, trong đó có hỗ trợ con giống và quy trình kỹ thuật. Sau sáp nhập, địa phương tiếp tục xây dựng kế hoạch về kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đồng thời phối hợp cơ quan chuyên môn tổ chức tập huấn khoa học công nghệ và chuyển đổi số cho người dân.
Theo anh Toàn, cùng với hỗ trợ kỹ thuật, liên kết tiêu thụ có vai trò quan trọng đối với hiệu quả của các mô hình. Thời gian qua, xã đã phối hợp ngành công thương triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp nhằm hỗ trợ thu mua nông sản của người dân.
Theo bà Đỗ Thị Bích Phượng, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Tân Bình, sau sáp nhập, địa phương vừa ổn định tổ chức vừa tập trung hỗ trợ người dân phát triển sản xuất, chăn nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Địa phương tiếp tục tạo điều kiện về kỹ thuật và các nhu cầu cần thiết cho các hộ sản xuất; khuyến khích người dân ứng dụng công nghệ, gắn với việc cụ thể hóa Nghị quyết 57 về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trên địa bàn.
Từ việc tận dụng phụ phẩm, kiểm soát chất thải đến tự động hóa chăn nuôi và ứng dụng công nghệ cao, các mô hình tại Tân Bình đang cho thấy một hướng tiếp cận mới đối với sản xuất nông nghiệp. Khi phụ phẩm được tái sử dụng, công nghệ được đưa vào quy trình và đầu ra từng bước được kết nối, giá trị sản xuất có thêm dư địa để nâng lên.
Định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và ứng dụng khoa học-công nghệ đang được xã Tân Bình từng bước cụ thể hóa, hướng tới nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, giảm chất thải và phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững.