Cơ hội tiếp cận của lao động phi chính thức với bảo hiểm xã hội tự nguyện

Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2020, số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đạt khoảng 1.013.000 người. Đây được xem là con số rất nhỏ so với 35 triệu lao động phi chính thức hiện đang là đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định pháp luật.

Các đại biểu thảo luận về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện cho lao động phi chính thức tại buổi tọa đàm.
Các đại biểu thảo luận về chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện cho lao động phi chính thức tại buổi tọa đàm.

Số liệu trên là thực tế được ghi nhận trong nghiên cứu “Tổng quan và phân tích chính sách Bảo hiểm xã hội Việt Nam” do Oxfam tại Việt Nam cùng mạng lưới Hành động Vì người lao đông di cư (M.net) thực hiện và được chia sẻ tại Tọa đàm “Bảo hiểm xã hội tự nguyện và cơ hội tiếp cận của lao động phi chính thức” tổ chức tại Hà Nội, ngày 21/12.

Cần phát triển hệ thống an sinh đa dạng, đa tầng

Theo nghiên cứu, so với các tiêu chuẩn và kinh nghiệm quốc tế, hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội Việt Nam đã tương đối đầy đủ và đáp ứng xu thế chung. Cụ thể, hệ thống bảo hiểm xã hội ở Việt Nam đang từng bước hoàn thiện hướng tới mục tiêu chung là bao phủ an sinh xã hội toàn dân, hướng đến mục tiêu tương đồng với các tiêu chuẩn quốc tế về mở rộng độ bao phủ theo chiều rộng đồng thời gia tăng phúc lợi cho người tham gia; bảo hiểm xã hội bắt buộc đã cung cấp đầy đủ các chế độ hưởng cho người lao động.

Tuy nhiên, đa phần người lao động phổ thông đang thiếu vắng nghiêm trọng chế độ bảo vệ thông qua hệ thống an sinh xã hội dù họ đã tham gia lực lượng lao động chính thức. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của các chủ cơ sở đã có đăng ký kinh doanh chỉ vào khoảng khoảng 3-17%. Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng phụ thuộc lớn vào hình thức hợp đồng lao động. Lao động làm việc theo hợp đồng ngắn hạn từ 3 tháng đến dưới 1 năm hoặc dưới 3 tháng thường không được thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định.

Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của lao động phi chính thức là chủ cơ sở, lao động tự làm và lao động gia đình rất thấp ngay cả khi thu nhập của họ cao hơn chuẩn nghèo. Nghiên cứu cũng nêu ra một số rào cản về chính sách khiến người lao động đắn đo khi tham gia bảo hiểm xã hội, đặc biệt là bảo hiểm xã hội tự nguyện.

Mặc dù chế độ hưu trí và tử tuất trong chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện về cơ bản là khá tương đồng, nhưng vẫn có một số khác biệt như chế độ hưu trí của bảo hiểm xã hội tự nguyện không có hưu trước tuổi, hưu do suy giảm khả năng lao động; chế độ tử tuất của bảo hiểm xã hội tự nguyện không có chế độ tuất hằng tháng mà chỉ có tuất một lần. Quyền lợi của người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện ít hơn bảo hiểm xã hội bắt buộc khi không có các chế độ ngắn hạn khác như chế  độ thai sản, ốm đau bệnh tật, và tai nạn lao động/bệnh nghề nghiệp.

Tại tọa đàm, Phó Giám đốc tổ chức Oxfam tại Việt Nam Phạm Quang Tú cho rằng, Việt Nam cần phát triển một hệ thống an sinh xã hội đa dạng, đa tầng, hiện đại và tích hợp theo các nguyên tắc phổ quát, bình đẳng, công bằng, chia sẻ và bền vững, cho tất cả người lao động. Các định hướng chính sách bảo hiểm xã hội cần từng bước bổ sung thêm các chế độ bảo vệ trong bảo hiểm xã hội tự nguyện để thu hẹp khoảng cách về chế độ giữa bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm xã hội bắt buộc. Trong quá trình sửa đổi bổ sung chính sách, tiếng nói của người lao động cần được các nhà hoạch định chính sách tôn trong, cân nhắc, và áp dụng một cách phù hợp...

Cơ hội để lao động phi chính thức tiếp cận chính sách tốt hơn

Bác sĩ Nguyễn Thu Giang, Viện trưởng Viện LIGHT nhấn mạnh: “Các chính sách An sinh xã hội được xây dựng và đánh giá dựa trên ba tiêu chí chính là: diện bao phủ, tính đầy đủ và tính bền vững. Bảo hiểm xã hội là một trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam. Với tỷ lệ bao phủ của bảo hiểm xã hội còn thấp, số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện còn ít so với tiềm năng, trong khi nhóm lao động khu vực phi chính thức lại chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu việc làm...

Vì vậy, chúng ta cần phải xem xét chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện một cách toàn diện hơn, bao gồm cả việc điều chỉnh chính sách phù hợp, đáp ứng nhu cầu của người dân, đặc biệt là các nhóm lao động tự do, việc thực thi chính sách cần tạo điều kiện và hiệu quả hơn, truyền thông cần dễ hiểu và đúng đối tượng hơn, cần có sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội, các nhóm đối tượng hưởng lợi vào quá trình xây dựng và thực thi, giám sát đánh giá”.

Với những thực tế đó, nghiên cứu của Oxfam cũng đưa ra một số khuyến nghị, đề xuất nhằm tăng độ bao phủ của bảo hiểm xã hội, đối với cả hai loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện. Theo đó, cần thay đổi theo hướng linh hoạt - giảm bớt hoặc bỏ quy định - về số năm người lao động đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để được hưởng chế độ hưu trí hằng tháng.

Đối với chương trình bảo hiểm xã hội bắt buộc, tăng mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc một cách phù hợp để bảo đảm về sức mua của các khoản đã đóng này khi quy đổi về hiện tại do tác động của lạm phát theo thời gian.

Đối với chương trình bảo hiểm xã hội tự nguyện, tăng mức điều chỉnh thu nhập tháng đã đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện một cách phù hợp để bảo đảm về sức mua của các khoản đã đóng này khi quy đổi về hiện tại do tác động của lạm phát theo thời gian. Triển khai các gói bảo hiểm xã hội ngắn hạn linh hoạt (như ốm đau, thai sản, trợ cấp gia đình). Cần có sự thay đổi về quy định đóng, hưởng và các chế độ hỗ trợ mức đóng với các nhóm lao động khác nhau cho phù hợp với các đặc trưng công việc (liên quan tới thu nhập) và gia đình; cần có chính sách hỗ trợ khác như hỗ trợ về cơ hội tiếp cận vốn với nhóm lao động tự làm và chủ cơ sở...

Có thể bạn quan tâm

Các tổ bầu cử trên địa bàn phường Hoàn Kiếm hoàn tất việc trang trí khu vực bỏ phiếu, bảo đảm trang nghiêm, đúng quy định. (Ảnh ĐẠI LONG)

Ngành bảo hiểm xã hội nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân trước ngày bầu cử

Các đơn vị trực thuộc, bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số (Bảo hiểm xã hội Việt Nam).

Chỉ số hài lòng với phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 tăng hơn 2%

Chỉ số hài lòng chung của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 đạt 89,50%, tăng 2,03% so với năm 2024. Con số này cho thấy sự cải thiện về chất lượng phục vụ của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng như phản ánh hiệu quả của công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số.

Lao động tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. (Ảnh minh họa nhandan.vn)

Sổ bảo hiểm xã hội điện tử đủ thông tin như bản giấy, tích hợp tài khoản VNelD mức độ 2

Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử được tạo lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất. Sổ được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản VNelD mức độ 2, tài khoản VssID, chứa thông tin đầy đủ như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.

Sản xuất các sản phẩm dệt nhuộm tại Công ty TNHH Dệt nhuộm Jasan Việt Nam tại Khu công nghiệp Phố Nối B, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh minh họa ÐĂNG DUY)

Đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính về bảo hiểm xã hội trong năm 2026

Kế hoạch cải cách hành chính năm 2026 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu cải cách hành chính phải xuất phát từ lợi ích của người dân, doanh nghiệp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của hệ thống bảo hiểm xã hội.

Chụp X-quang tại Bệnh viện Bạch Mai.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam phản hồi về việc giám định và thanh toán dịch vụ kỹ thuật hình ảnh

Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế chưa phù hợp bản chất của hướng dẫn y tế chuyên môn. Điều này có thể ảnh hưởng đến thời gian, quyền lợi của người bệnh bảo hiểm y tế.