Chang chang đồng muối

Đồng muối Tang Văn còn có tên là Đồng Tàn, thuộc xã Hải Chính, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định được hình thành vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Đây là một trong những đồng muối lớn nhất nhì thời điểm đó.
Một số lều muối còn sót lại.
Một số lều muối còn sót lại.

Ruộng muối của gia đình tôi sát biển, có đê bao mọc đầy lau lách và dứa dại, ngoài đê là bãi cát dài có nhiều đám cỏ mặt trời, mỗi khi có trận gió to, những bông hoa cỏ lăn dọc bãi biển như những chiếc chong chóng, chúng tôi líu ríu đuổi theo nhưng thường không kịp. Tiếp đến là bãi cát sát mép nước có rất nhiều con còng còng (dã tràng), khi không có người chúng lên xe cát đầy kín bãi, vậy mà khi chúng tôi đến nơi chúng trốn hết không còn thấy bóng dáng con nào. Ngoài kia là sóng nước mênh mông vỗ vào bờ nghe dào dạt, bồi hồi. Những lúc sóng yên biển lặng, nhiều thuyền đánh cá cập bờ. Ngư dân kéo lưới, cá nhảy lên lấp lóa ánh bạc.

Làm ra hạt muối đã vất vả, những ngày bán muối còn vất vả hơn rất nhiều. Hằng ngày gia đình tôi đã chuyển dần muối về cạnh kho muối của Chi cục Muối tỉnh Nam Định nằm gần chợ Kiên Chính. Nơi đây có bến muối lớn, các con tàu, thuyền có trọng tải vài ba chục tấn vào ăn muối rất đông. Trên bãi đất gần bến có hàng chục kho muối hình chữ A lợp cỏ bổi (phụ phẩm của cây cói) xếp thành dãy ngay ngắn. Mỗi kho có sức chứa lớn hàng mấy trăm tấn muối, xuất, nhập nhộn nhịp, náo nhiệt. Kho tạm của các gia đình bên cạnh kho muối của Chi cục Muối chỉ là những tấm cót to quây tạm lại, đậy lá lên che mưa nắng, cát bụi.

Ngày bán muối nhà nào cũng có vài ba người vất vả đong muối vào phương (hộc gỗ đựng được 18,3 kg muối) rồi cất lên đầu một người đội vào kho, khi đi ra thủ kho sẽ ném cho một chiếc thẻ gỗ, sau này là thẻ nhựa, vào cái phương trống. Thẻ này sau đó được dùng thanh toán với Chi cục Muối để lấy tiền.

Năm 1966 vùng quê Hải Hậu của tôi bị ném bom ác liệt. Bom phá cầu đường, trường học, nhà dân… Kho muối cứ đêm đêm lại trúng bom cháy sáng rực cả bầu trời. Cả một dãy kho lớn cháy trụi trơ ra những núi muối đen sì. Người ta phải làm mái che tạm khi tàu thuyền chưa kịp chuyển muối đi. Ban ngày máy bay ầm ầm qua lại rồi trút bom bất cứ lúc nào. Ruộng muối cũng bị tàn phá. Có bạn học sinh của trường tôi bị trúng bom trên đường đi học, rất thương tâm.

Nhưng người dân đồng muối gan dạ lắm, nhà nào cũng có hầm trú ẩn, khi có máy bay bổ nhào về phía mình thì phải xuống hầm thật nhanh vì bom có thể trút xuống đúng chỗ mình. Còn khi nó bay quá đầu mình mới chúi xuống thì không sợ vì bom sẽ trút ở xa nên vẫn ung dung làm tiếp.

Ngày nay đồng muối Tang Văn xưa đã bị biển lấn hết rồi, ngôi nhà thờ gần đó bị đổ gần hết còn bức tường và tháp chuông, trở thành nơi mọi người về chiêm ngưỡng (gọi là Nhà thờ đổ Hải Lý). Con sông dẫn nước mặn cho cánh đồng muối và bến chứa muối đợi bán ngày xưa giờ đã biến thành làng mạc cả rồi. Các kho muối cũng không còn. Đồng muối giờ bỏ hoang cỏ mọc um tùm, một số chuyển thành ao nuôi tôm cá, một số thành vườn rau, vườn cây trái. Chỉ còn lác đác vài nhà làm muối. Mỗi lần trở về quê hương, thăm lại vùng muối ngày xưa, tôi vẫn còn y nguyên cảm giác cái nắng chang chang cháy bỏng trên đỉnh đầu và cát bỏng giãy dưới chân mình.

Có thể bạn quan tâm

Thú vui đàm đạo. Ảnh: SONG ANH

Người ở phố Hàng

Hà Nội ba sáu phố phường - khu vực các phố Hàng được coi là trung tâm kẻ chợ, nơi sầm uất, phát triển phong phú nhất của Hà thành, tạo nên nền tảng văn hóa, nhịp đập cho trái tim Thăng Long từ thuở những xa xôi lịch sử.

Chiếc máy ép mía chạy sức trâu của ông ngoại nằm yên sau nhiều năm không sử dụng.

Mùi mật mía năm xưa

Dưới mái hiên cũ kỹ của căn nhà ngoại, tôi vẫn thường ngồi lặng im, nhìn ra cánh đồng sau hè. Nơi ấy, cỏ voi, cỏ dại đã che khuất. Nhưng chỉ cần cơn gió nhẹ thổi qua làm lay động vạt cỏ xanh, tôi lại thấy thấp thoáng hai khối sắt sần sùi còn sót lại của chiếc máy ép mía ông ngoại từng dùng.

Minh họa: TRẦN XUÂN BÌNH

Nỗi nhớ sông Đà

Tháng ba dương lịch năm con Ngựa. Mùa xuân đang chín ửng. Ban ngày nhiệt kế chỉ 25 nhưng đêm tụt xuống 17 độ, vẫn đủ lạnh với một cựu sĩ quan già, là chính tôi.

Người lao công. Ảnh: NAM NGUYỄN

Người dọn villa Tây

Chị Lê Thị Tịnh, ngụ làng rau Trà Quế (phường Hội An Tây, thành phố Đà Nẵng) là một người làm nghề tạp vụ theo giờ cho những căn villa mà khách nước ngoài thuê ở phố Hội.

Minh họa: NGUYỄN VĂN ĐỨC

Vườn sau quán

Năm giờ sáng chợ đã tấp nập. Hằng kéo xe đẩy vào chỗ ngồi quen thuộc, gần cột điện, sát vỉa hè. Chị mở bao tải ra, từng bó đậu bắp xanh mướt xếp lên miếng bạt. Trái non, tươi, còn đọng sương. Hằng ngồi xuống chiếc ghế nhựa thấp, lưng còn mỏi từ hôm qua làm vườn. Ngón tay chai sần, đen nhẻm sau mấy tháng bới đất.

Ảnh: TỐNG NGỌC

Những người đàn bà Nậm Nghẹp

Trên bản Nậm Nghẹp (Sơn La), những ngày hoa sơn tra phủ trắng núi rừng, phía sân sau của nhà A Vạng, mấy người phụ nữ H'Mông đang đồ một chõ xôi lớn để chuẩn bị cho bữa tối.

Ảnh: HẢI ANH

Tiếng chim sẻ bên hiên nhà

Nhà tôi tiếng thuộc thị xã nhưng ở ngoài vành, tách biệt với ồn ào phố xá. Nguyên ngày xưa nhà mẹ đất quê nên chồng tôi - con trai út - ở nhà từ đường được sở hữu khu vườn khá rộng. Và tôi - con dâu của mẹ tha hồ hiện thực hóa giấc mơ đem thiên nhiên vào nhà.

Minh họa: VÕ LƯƠNG NHI

Giấc mơ huyền diệu

Mẹ lay người mấy lần nó mới tỉnh. Khuôn mặt nó vẫn còn phảng phất nụ cười rạng rỡ. “Con mơ thấy gì mà cười khoái chí thế hả?”, mẹ hỏi.

Quán trà nhỏ mùa hoa Hà Nội

Tháng ba, Hà Nội bỗng nhẹ tênh như vừa thức dậy sau giấc ngủ dài. Mùa xuân ở đây không ồn ào, cũng chẳng phô trương. Chỉ là một buổi sáng đi qua con phố quen, bỗng thấy những chùm hoa sưa trắng muốt như mây rơi xuống lòng đường.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Cây gạo mắc oan

Chiều buông. Lũ trẻ lùa trâu về nhà, qua cây gạo cổ thụ ụ rễ to sụ, ngoằn ngoèo như con trăn chúa gần cánh đồng hoang.

Ảnh: ANH QUÂN

Người của rừng

Mỗi lần bà tôi cho ra chợ phố chơi, mọi người thường chào hỏi bà tôi bằng câu: “Mới trong rừng ra hả?”.

Người không đi cùng hôm đó

Tôi đứng trước một nấm mộ nhỏ, bó hoa ly trắng khẽ đung đưa theo gió, mùi hương thoảng. Những đám mây thả nhẹ trên nền trời trong.

Nhớ. Ảnh: NAM NGUYỄN

Vọng cố hương

Ngày nào trong tuần ông cũng ở nhà một mình, như đứa trẻ được con cháu dặn dò đủ thứ cần lưu ý, nhưng tâm trí của ông cứ nhớ nhớ quên quên, vì nay ông đã ngoài tám mươi.

Minh họa: NGUYỄN NGHĨA CƯƠNG

Gió phai màu tóc

Bây giờ người ta thấy chú thím Sáu tôi tóc hai màu mà vẫn ríu rít bên nhau thì bảo là sến quá. Gì mà ông chồng phải nhổ tóc sâu cho vợ? Nắng gió đã phai hết màu nước đen óng ả mà sao thím cứ sến súa thả mái tóc muối nhiều hơn tiêu cho chồng chải giúp thật sến súa quá đi.

Đèo Đá Trắng. Ảnh: NAM HẢI

Trên đèo Đá Trắng

Chiếc xe bán tải đỗ xịch lại ngay cạnh cái lán được dựng bên khúc cua trên đèo Đá Trắng. Xe được dán chằng chịt những logo khá “hầm hố”. Cả cánh cửa bên hông được trang trí hình ảnh của một thổ dân da đỏ với những chiếc lông chim gắn ở trên đầu, cho thấy chủ nhân của chiếc xe có vẻ là những “tay chơi” thứ thiệt.

Ảnh: HẢI ANH

Thăm nhà cũ ngày xuân nắng nhạt

T rong vùng ký ức xưa cũ nhất của tôi là hình ảnh chập chờn một đứa trẻ lên ba, lên bốn, ngồi trên chiếc giường đặt tạm giữa sân.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Bóng trăng

Ngày nhiều gió, Hoàng chở cây hoàng yến sau xe máy, gạt chống xe rồi mở khóa cổng vào nhà. Anh loay hoay trồng cây hoàng yến, nhắm hướng cho vừa tầm với góc nhìn của My từ ô cửa sổ trên căn gác.

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.

Minh họa: KIM DUẨN

Màu của Tết

Mùi của Tết thường đến khi gian bếp thơm mùi bánh chưng sôi ùng ục, khi những chiếc áo cũ mẹ mang ra phơi vẫn vương mùi băng phiến, khi mùi trầm ngan ngát theo gió thổi qua mỗi gian nhà. Khi ấy, Tết đã cận kề. Nhưng màu của Tết thì đến sớm hơn nhiều…