Nụ cười nơi những phòng văn đặc biệt (kỳ 2)

Kỳ 2: Quyền tỏa sáng của đóa hoa
Nhà văn Trần Văn Thước đứng viết văn. Ảnh: VŨ ĐẢM
Nhà văn Trần Văn Thước đứng viết văn. Ảnh: VŨ ĐẢM

(Tiếp theo và hết)

Bình thường nhà văn, nhà thơ gắng gỏi làm việc thì tiền nhuận bút từ viết lách chỉ bảo đảm một phần chi phí sinh hoạt hằng ngày. Với các tác giả không may khuyết tật, ngoài phải nhọc nhằn mưu sinh, không ít người vẫn cậy nhờ bàn tay của người bạn đời giàu đức hy sinh, bè bạn và cộng đồng.

Chuyện của hai tác giả… viết đứng

Không bị bệnh tật “rơi trúng đầu”, nhưng nhà thơ Trương Quang Thứ (xã Quỳnh Lập, huyện Quỳnh Lưu - Nghệ An) bị ảnh hưởng bởi một trận bom Mỹ. Năm 1972, trong một trận oanh tạc của không lực Mỹ, ông Thứ bị một mảnh bom găm vào chân. Do thuốc thang ít, lại chẳng kiêng khem nên vết thương nhiễm trùng rồi sinh ra bệnh khớp và biến chứng, dẫn đến cột sống bị liệt. Năm đó, gia đình đã đưa ông đến nhiều bệnh viện nhưng không chữa được. Rất nhiều lần chán nản, ông nghĩ đến cái chết, rồi một ngày nọ, nhìn qua khung cửa sổ, chàng thanh niên lúc ấy bỗng thấy lá non trổ đầy cành, chim líu lo hót và bỗng thấy đời còn nhiều điều đẹp quá. Vốn có tính lãng mạn, trong đầu ông bật ra những vần thơ và lấy bút chép lại để đọc. Cứ như thế, ông viết liên tục và gửi đến các báo và được đón nhận, đăng tải. Ông Thứ kể: “Trong gian khó, tôi đã tìm cách lấy lại thăng bằng và thành công. Những năm đó, các biên tập viên thấy thơ hay nên in, không hề biết tác giả là người tật nguyền. Nhiều lần họ mời tôi đến giao lưu, nhưng tôi từ chối vì di chuyển sẽ rất bất tiện”.

Do cột sống cứng đơ nên ngoài lúc ngủ ông được nằm, còn với các sinh hoạt khác, ông phải đứng để làm. Suốt nhiều năm, ông Thứ đứng viết trong ngôi nhà chật hẹp. Sau này, cuộc sống đỡ vất vả hơn, gia đình xây được ngôi nhà rộng hơn thì nơi ông Thứ đứng để sáng tác cũng rộng và thoải mái hơn. Ông lạc quan: “Thực ra đứng viết cũng có cái hay. Tôi có thể kê mấy cái tải hàng lên rồi viết, có thể tì lên tường, lên giá sách. Khi nhà rộng, tôi đóng cái bàn cao trong phòng có giá sách, rồi cần mẫn viết”.

Nhà thơ Trương Quang Thứ sống lạc quan và luôn biết ơn người vợ tảo tần, luôn tạo điều kiện cho chồng sáng tạo. Ông bảo, thật ra thu nhập chính để trang trải cho con cái ăn học, sinh hoạt gia đình và để ông có được cuộc sống văn chương khởi sắc như hiện nay, chủ yếu là nhờ “bà xã”. Tuy nhiên ông vẫn luôn cố gắng viết để thỏa mãn nghiệp văn chương vừa kiếm thêm tiền nhuận bút.

Ông tự hào: “Tôi làm thơ, viết tản văn, viết báo... cộng tác với nhiều báo, tạp chí trong cả nước. Ngoài ra tôi còn làm biên tập cho bản tin, tập san Văn nghệ của một số cơ quan huyện, thị trong tỉnh Nghệ An. Tiền nhuận bút và tiền thù lao tôi nhận được tạm đủ sinh hoạt theo kiểu… liệu cơm gắp mắm. Nhưng như thế cũng vui lắm lắm!”.

Cũng không thể ngồi, phải đứng để viết văn mấy chục năm qua, nhà văn Trần Văn Thước ở Thái Bình đã cho ra đời 14 tác phẩm, gồm 2 tiểu thuyết và 12 tập truyện ngắn, cùng hàng chục bút ký. Ông giành được nhiều giải thưởng truyện ngắn, bút ký của báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội, giải thưởng văn học Lê Quý Đôn, giải thưởng của Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam... Nhà văn Vũ Đảm, đồng hương của ông chia sẻ: “Giải thưởng lớn nhất mà Trần Văn Thước có được chính là những truyện ngắn in đậm hình ảnh người nông dân, được độc giả cả nước yêu mến”.

Nhà văn Trần Văn Thước từng là công nhân ngành đường sắt. Năm 1979, ông bị tai nạn và bị liệt tủy sống và teo nửa người dưới. Dù trải qua nhiều ngày chạy chữa, cột sống của ông vẫn chẳng thể trở lại bình thường. Sau thời gian dài nằm viện, năm 1985 ông đưa vợ con về quê Thái Bình. Cả gia đình 5 người, lại có bố mẹ già, nhưng tiền thuốc men, việc chi tiêu hằng ngày đều trông cậy vào tiền trợ cấp thương tật, trợ cấp người phục vụ của nhà văn. Ông Thước nhớ lại: “Năm đó, lúc tôi đang gặp khó thì bạn bè gợi ý vay vốn mở cửa hàng tạp hóa. Cửa hàng được cải tạo từ nửa gian bếp của tôi chỉ là hạng “tép riu” nhưng cũng cho thêm thu nhập. Công nợ trả dần rồi cũng xong. Giờ cuộc sống của gia đình tôi chưa dư dật gì nhưng tạm ổn”.

Nhà văn Trần Văn Thước chia sẻ: “Từ ngày bị tai nạn, tôi chỉ quẩn quanh trên giường. Sách báo dắt tôi đi khắp đó đây. Sách báo cho tôi thêm kiến thức để bổ trợ công việc. Hơn một lần tôi reo, cười phá lên khi gặp được trong trang sách những điều chưa từng được biết, những sự việc lạ lùng, những câu chuyện thú vị. Tôi có tủ sách nhỏ phần mua, phần bạn bè tặng. Làng tôi vẫn còn người ham đọc sách. Bạn đến nhà lấy sách ngồi đọc hoặc mượn về là chuyện thường ngày. Nhờ chuyện thường ngày ấy mà tôi có thêm bạn, nhà ven đường lúc nào cũng vui”.

Còn chuyện đứng để viết, với nhà văn Trần Văn Thước nhọc nhằn lắm! Trước khi đứng, ông phải dùng vải cuốn từ gót đến đùi rồi dùng hai nẹp sắt buộc lại, rồi phải đu cả người trên đôi nạng gỗ. Khi đứng, một tay giữ nạng, một tay cầm bút. Mỗi lần đứng không quá 15 phút. Dù đứng lâu, máu không lưu thông được nhưng hễ có đề tài, ông lại miệt mài bên chiếc vỏ hòm đạn B40 để “đánh vật” với con chữ. Khổ nhất là những ngày trái gió trở trời, người ông co giật đùng đùng. Ông sẽ cố gắng buộc chân vào thành giường và vật lộn, chống chọi với nó như một phần của cuộc sống.

Số phận nghiệt ngã đã lấy đi của Trần Văn Thước đôi chân, sức khỏe nhưng lại cho ông một người vợ giàu tình yêu thương, tảo tần và những người con ngoan ngoãn, thành đạt. “Có người từng nói, mỗi người là một đóa hoa, vậy thì đóa hoa luôn có quyền tỏa hương”, nhà văn lạc quan giãi bày.

Sống bằng… nhuận tình

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng không còn xa lạ với những người yêu thơ bởi câu chuyện về cuộc đời anh đã làm ta cảm phục ý chí cũng như nghị lực của một con người trong tuyệt vọng vẫn không ngừng sáng tạo cái đẹp. Anh sinh năm 1960 tại Quảng Ngãi, năm 1983, anh tốt nghiệp sư phạm, đi dạy được ít ngày thì bệnh “co cơ tiến triển” ập xuống khiến anh phải bỏ việc. Đầu năm 1988, mẹ anh mất, bạn bè đưa anh về chăm sóc.

Ấy là thời cả nước đói nghèo, bạn bè anh cũng thế. Nhìn cảnh bạn đã oằn vai còng lưng bao gánh nặng còn phải dang tay dìu đỡ mình, anh không đành lòng. Đã không ít lần anh nảy ra ý nghĩ: Sao không “tự giác ra đi” để vừa tự giải phóng cho mình vừa nhẹ gánh cho bạn?! Nhưng rồi một tia chớp lóe lên trong Hưng: Sao không thử tận dụng 16 năm học hành với hơn 30 năm từng trải nắng mưa trần thế để làm một chút gì đó có ích cho mình, cho bạn, cho đời? Hưng giãi bày: “Theo tiếng gọi huyền bí nào đó, thơ đã đến và song hành cùng tôi mãi đến bây giờ. Và dần dần những bài thơ được đăng, những tập thơ được in, những giải thưởng được trao đã trở thành nguồn cảm hứng sống, thành cây gậy chống, thành chiếc cầu nối tôi với thế giới rộng lớn”.

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng với công việc mỗi ngày. Ảnh: NGUYỄN TẤN KHAM

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng với công việc mỗi ngày. Ảnh: NGUYỄN TẤN KHAM

Những bài thơ đầu tiên của anh được đăng báo chí là nhờ nhóm bạn “phát hiện” và nhà thơ Mai Bá Ấn nhiệt tình chọn, đánh máy, gửi các tòa soạn. Hầu như mấy tập thơ đầu của Nguyễn Ngọc Hưng đều được hỗ trợ in ấn nhờ sự quan tâm giúp đỡ của anh Tư Cò, nhà thơ Hoàng Minh Nhân, nhà thơ Thanh Thảo, nhà văn Trần Tuyết Minh, Hội Văn học nghệ thuật Quảng Ngãi, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ngãi và các nhà tài trợ khác. Những tập thơ sau này dù không được tài trợ nhưng tất cả giấy phép xin từ NXB Hội Nhà văn đều được cho miễn phí.

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng cũng bảo rằng, anh sống được không phải nhờ “mưu sinh” như người bình thường. Trước là nhờ mẹ, sau là bạn bè, bà con nội ngoại và những tấm lòng nhân hậu gần xa đã yêu thương, cưu mang, nâng đỡ. Nguyễn Ngọc Hưng tâm sự: “Với khoản thu nhập ít ỏi từ thơ thì rất khó trang trải cuộc sống ngay cả với một người bình thường, huống hồ một người bệnh khó như tôi. Với riêng tôi, “thu nhập” gồm hai khoản: Nhuận bút và nhuận tình. Hai khoản thu nhập này không cho tôi cuộc sống giàu sang, nhưng cũng đủ nuôi phần xác lẫn phần hồn, để tôi đủ sức trụ hơn 40 năm với niềm tha thiết yêu đời, thương người và sâu sắc biết ơn tất cả”.

Dường như, với các nhà văn, nhà thơ, sau những lần được giúp đỡ, vượt thắng hoàn cảnh, họ trở nên mạnh mẽ hơn nhiều người khác không gặp hoàn cảnh ấy. Họ đã găm vào dòng đời tác phẩm, tinh thần cũng như giá trị và mục đích sống của mình.

Nụ cười nơi những phòng văn đặc biệt (kỳ 1)