Người trẻ Dư Dụ giữ nghề truyền thống

Đi qua làng Dư Dụ (Thanh Oai, Hà Nội) không bao giờ thấy thiếu vắng âm thanh của những nhát đục, gõ, tiếng cưa, xẻ gỗ, hay hương thơm của gỗ mới, mùi của nước sơn… Có thể thấy, sức sống làng nghề và những tinh hoa nghệ thuật điêu khắc, nhất là tạc tượng, vẫn bền bỉ trong tay những nghệ nhân, đặc biệt là lớp trẻ.
Đã có nhiều người trẻ của làng Dư Dụ tham gia làm nghề truyền thống.
Đã có nhiều người trẻ của làng Dư Dụ tham gia làm nghề truyền thống.

Chú trọng đào tạo lớp thợ mới

Để nói về lịch sử nghề mộc làng Dư Dụ, có lẽ tới nay ngay cả các bậc cao niên cũng không thể nhớ rõ nó hình thành từ bao giờ. Họ chỉ biết tổ nghề được dân làng thờ hiện nay là Lỗ Ban và ngày giỗ tổ nghề là mồng 4/5 âm lịch. Trước đây, sản phẩm chủ yếu của làng Dư Dụ là hoành phi, câu đối, y môn, lèo tủ, sập… nhưng hiện nay, người dân địa phương chủ yếu tập trung vào điêu khắc các loại tượng từ gỗ như tượng Phật Di Lặc, Phật Thích Ca, Tam đa (Phúc, Lộc, Thọ), Thọ Tứ linh, Tiên Tứ linh hay các nhân vật lịch sử của Việt Nam cũng khá phong phú như Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung… Ngoài ra còn có các loại tượng thú như trâu, bò tót, hổ, voi, ngựa…

Những kỹ nghệ, ngón nghề cũng được lưu giữ truyền thụ chủ yếu qua truyền miệng và học nghề từ bậc cao niên trong mỗi gia đình. Con trai làng Dư Dụ từ 11-12 tuổi bắt đầu đi học nghề, sau hai đến ba năm mới được công nhận là thợ nhỏ, hay còn gọi là phó nhỏ. Đến khi 16-17 tuổi, tay nghề tinh tế hơn mới trở thành thành viên chính thức của tốp thợ. Tới năm 19-20 tuổi mới trở thành thợ bạn, nhưng thường phải mất một thời gian lâu làm nghề mới lên được phó ba, phó hai, rồi cuối cùng là phó cả, tên gọi người thợ giỏi nghề, đặc biệt giỏi vẽ, chuyên nhận việc và chỉ đạo thợ làm.

Nói về quá trình học và làm nghề, bạn Nguyễn Trọng Lĩnh (24 tuổi), một thợ trẻ tại xưởng đồ gỗ Hiền Lĩnh của làng Dư Dụ, chia sẻ: “Em được bố truyền dạy từ lúc còn đi học cấp hai, nhưng tới khi học đại học em mới được làm nghề. Ban đầu em được học làm mặt, và hiện tại được giao làm dáng tượng. Tất cả đều có tỷ lệ riêng theo quy chuẩn mà thợ Dư Dụ luôn tuân thủ”.

Để làm sản phẩm, từ các khúc gỗ, người thợ cả phải vẽ để tạo hình sản phẩm. Tiếp đó là đục loại bỏ những phần gỗ thừa theo hình vẽ. Đây là công đoạn không khó nhưng nếu đục chuẩn thì các công đoạn sau, nhất là khâu đục thành chi tiết (còn gọi là “khâu hạ”), sẽ đỡ tốn công, nhẹ nhàng hơn. Người thợ cần tinh ý để biết lựa thớ gỗ để loại bỏ các chi tiết thừa mà không làm vỡ khối gỗ hoặc đục quá vào gỗ. Sau khâu hạ, thợ tiến hành tỉa, tách và hoàn thiện sản phẩm, rồi dùng giấy ráp đánh bóng.

Linh hoạt theo thời cuộc

Theo thời gian, sự phát triển của làng nghề đã kéo theo nhiều thay đổi, về cả công việc lẫn cuộc sống. Ngày nay, những vật “bất ly thân” của người thợ Dư Dụ trong bộ đồ nghề như cưa xẻ, cưa con, các loại đục (đục vũm, đục thoáng, đục bạt…), các loại tràng (tràng tách, tràng chảy), các loại móng (móng vũm, móng thẳng), búa… dần được tinh giản hóa, thay thế bằng máy móc như các loại máy cưa, máy phun sơn, máy tiện và một số dụng cụ khác.

Do nhu cầu của người tiêu dùng trong và ngoài nước tăng, nhu cầu về gỗ điêu khắc ở Dư Dụ cũng theo đó gia tăng. Thế nhưng nguồn cung nguyên liệu gỗ của Dư Dụ hiện hạn chế, không đáp ứng được về khối lượng và chủng loại, nhất là trong bối cảnh những loại gỗ quý do nguồn gỗ tự nhiên đang cạn dần. Để giải quyết vấn đề này, nhiều chủ xưởng dần thay thế gỗ quý bằng các loại gỗ thông dụng như: gỗ hương, xà cừ, bách xanh, pơ mu mua từ các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Sơn La… Ngoài ra, vấn đề mặt bằng sản xuất của làng đã được cải thiện, cả về diện tích phục vụ sản xuất lẫn giao dịch trong kinh doanh. Các cơ sở sản xuất hiện tại đã được di dời ra gần đường tỉnh 427B phía rìa làng để tránh cho khu dân cư khỏi ô nhiễm vì bụi mùn cưa, mùi sơn phun...

Bên cạnh nhiều bước tiến liên quan đến sản xuất, sản phẩm truyền thống của làng Dư Dụ cũng đã tiếp cận được đông đảo người tiêu dùng hơn thông qua hệ thống cửa hàng trưng bày và hoạt động livestream bán hàng trên mạng internet. “Trước đây, khách đến mua tượng chủ yếu là khách buôn trong nước. Nhưng một số năm trở lại đây, các chủ xưởng đã tích cực tham gia thương mại điện tử và bán hàng qua các kênh trực tuyến. Trong những lúc thấp điểm, cửa hàng nhỏ như của chúng tôi có thể bán vài chục tượng, với kích cỡ khác nhau và giá trung bình từ 2-5 triệu đồng/tượng”, chị Nguyễn Thị Thu (42 tuổi) cho biết.

Trong khi đó, theo chia sẻ của bạn Lĩnh, mức thu nhập của người thợ Dư Dụ ổn định và tốt so mặt bằng chung nghề mộc. Trung bình với một người thợ tay nghề khá với khoảng trên 5 năm kinh nghiệm vào khoảng 15 triệu đồng/tháng, đến từ tiền công tạc tượng hoặc tiền bán sản phẩm. Thậm chí, nhiều người thợ cả với nhiều năm kinh nghiệm đã đứng ra mở xưởng, tạo thêm công ăn việc làm với mức thu nhập bình quân một người thợ khoảng 300-500 nghìn đồng/người/giờ tùy trình độ. Nghề điêu khắc của làng luôn chiếm tỷ trọng chính trong sự phát triển kinh tế địa phương và thu nhập bình quân khoảng từ bảy đến tám triệu đồng/người/tháng. Hiện nay, làng Dư Dụ có đến 80% lao động làm nghề điêu khắc truyền thống, đa số trong độ tuổi từ 20 đến hơn 40 tuổi.

Anh Nguyễn Duy Thưởng (43 tuổi), người thợ cả với hơn 20 năm kinh nghiệm trong làng cho biết: “Thay vì cắt, đục thủ công, nhiều loại máy móc giúp người thợ tạo ra đường nét, thiết kế nhiều mẫu mã mới, đưa vào thêm các họa tiết độc đáo”.

Có thể bạn quan tâm