1. Nhiều năm trước, tôi may mắn được nghe cách chia sẻ từ nguyên bản tiếng Trung của dịch giả Trần Đình Hiến, khi ông kể về việc dịch cuốn “Tô tem sói” 6 tháng ròng, chuyện về bến đỗ cuối cùng của người Nội Mông, sự khác biệt văn hóa của người Nội Mông với đất nước ta ra sao? Hay dịch giả kể về “Đàn hương hình” của Mạc Ngôn, “Cây hợp hoan” của Trương Hiền Lượng. Tôi từng học qua cách nghe, khi ông vừa dịch xong tiểu thuyết nhiều ngày quên cả ăn cả ngủ, mà bà Loan vợ ông tâm sự xót thương.
Rồi cách nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, đọc tiểu thuyết bằng bản gốc tiếng Pháp, hay cách đọc nghiên cứu để viết “Hồ Quý Ly”, “Mẫu Thượng ngàn”, “Đội gạo lên chùa”… Mỗi nhà văn đều có một cách viết riêng, ví như nhà văn Hoàng Quốc Hải viết “Bão táp triều Trần”, 6 tập, “Tám triều vua Lý”, 4 tập mới thấy, lao động nhà văn không thể tính được hết sức nặng, trách nhiệm của người cầm bút trước thời cuộc. Khi họ đối mặt với câu chữ trên trang giấy, giống như một người, một thuyền, một mái chèo ngoài khơi. Khi nhà văn viết trải lòng với bao phận người ở thể loại tiểu thuyết. Đời sống của nhà văn là đọc, đi, viết, gắn bó với từng trang bản thảo. Giờ là thời 4.0 mới được gõ bàn phím, nhưng vẫn có nhà văn viết bằng bút mực, bút bi, như nhà văn Đỗ Chu, Lê Minh Khuê, nhà văn Văn Linh, Hoàng Quốc Hải, nhà văn Hà Khánh Linh, nhà thơ Hoàng Thị Minh Khanh.
2. Bất chợt tôi nhớ lại khi viết tiểu thuyết đầu tay “Một bàn tay thì đầy”. Viết dở chừng thấy khó thì bỏ đấy, cũng có phút giây muốn bỏ cuộc. May sao nhờ chuyến đi ra Hải Phòng, xem triển lãm tranh sơn dầu của nhà văn Đoàn Lê, tôi may mắn gặp gỡ nhà văn Bùi Ngọc Tấn, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Xuân Khánh. Nhìn những tấm gương lao động tiểu thuyết, hàng nghìn trang sách, khiến tôi nể trọng, muốn viết tiếp. Đận đó, nhà văn Bùi Ngọc Tấn hỏi: “Cô viết có thấy dính người xuống ghế không?”. Đáp: “Dạ, lúc dính, lúc không, viết đến chương người mẹ đi tu ở chùa Trấn Quốc, thấy mình không hiểu gì về mẹ của mình, nên em dừng lại. Vì em xa mẹ từ bé, khi mới ba tháng tuổi, bà gửi con rồi đi ở chùa?”. Anh Tấn tiếp: “Hay cô thử nhờ Nguyễn Xuân Khánh đọc cho, ông bạn tôi am tường về Phật giáo lắm đấy!”. Đáp: “Em đã nhờ sư phụ đọc cho rồi, nhưng chưa dám hỏi. Anh xem, chị Đoàn Lê ríu rít với phòng tranh, mừng rỡ gặp anh Khánh, em không tiện hỏi?”. Anh Tấn cười nhẹ, hóm hỉnh: “Viết văn xuôi phải chịu khó, viết văn là đi cày, không giống như làm thơ, cô cứ xem anh Hoàng Quốc Hải viết mười cuốn về sử thi triều Lý, triều Trần, lao động như khổ sai ấy chứ?”.
Tôi cũng chạnh lòng nhớ thời bao cấp, nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú viết tiểu thuyết “Buổi sáng”, “Đất làng”, chị không giơ được cánh tay phải lên khi vắt khăn mặt. Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh viết xong, cũng không nhấc được xô cám khi cho lợn ăn. Có một thời anh Khánh phải nuôi lợn, may quần áo thuê, dịch thuê kiếm sống, nuôi con, lặng lẽ để đam mê viết văn. Nào có ai hay?
Rồi sau thời gian ở triển lãm từ Hải Phòng về Hà Nội, anh Nguyễn Xuân Khánh trò chuyện với “mẫu Quỳnh Giao, mẫu Thanh Bình, mẫu Hoa Phượng…” - từ ngày anh Khánh ra mắt “Mẫu Thượng ngàn”, các em biên tập NXB Phụ nữ Việt Nam, được gọi thân mật là “mẫu” trong đối thoại gặp gỡ, xem ra hoan hỷ lắm. Một không khí thân tình ấm áp, trân trọng, giữa nhà văn và những người làm công tác biên tập của NXB, được gắn kết như một gia đình văn học.
Sau đó, anh Nguyễn Xuân Khánh vẫn dành thời gian góp ý bản thảo tiểu thuyết rất chi tiết cho tôi: Ở chương U Trần, nhân vật u Trần phải sáng tạo, đắp thêm xương thịt vào cho có da có thịt. Hoặc, cô lên thư viện quốc gia tra cứu đọc thêm về sách Phật giáo, viết để người đọc THẤM. Khi tôi viết “Hồ Quý Ly”, đọc thâu đêm, viết mệt quá thì lại đi xe bus lên chùa Bổ Đà, hay chùa Vĩnh Nghiêm. Nghĩ ở không gian chùa “tĩnh” hơn, quay về nhà mới viết tiếp…
Nghề viết thì khó bỏ cuộc, nhọc mà khó chia sẻ với ai. Mãi khi viết xong tiểu thuyết, tôi mới hiểu. Viết xong không muốn gặp ai. Người trống rỗng. Không muốn gì, như con tằm rút ruột, thấy mình chả còn gì nữa. Kể cả nỗi buồn. Nỗi buồn cũng tiêu hết rồi. Khi tôi nộp bản thảo cho chị Thanh Bình, NXB Phụ nữ Việt Nam, tôi nói với người thầy Nguyễn Xuân Khánh rằng: “Làm sao để thoát ra khỏi sự ám ảnh của trang viết?”. Nhà văn khuyên tôi nên đi du lịch. Tôi từng lên chùa Trấn Quốc, ngồi ở tam quan sân sau, ăn chay rồi chiều muộn đi xe đạp trở về nhà, cũng phải hàng tháng mới nguôi ngoai dần. Rồi con tim cũng vui trở lại khi tiểu thuyết ra đời. Tôi ôm sách ngủ mà không sao ngủ được. Vui, buồn trong nghề viết thì chỉ có người cầm bút, viết nhiều sẽ hiểu được.
3. Hạnh phúc của nghề viết chắc không giống ai. Hân hoan khi cuốn sách ra đời, nếu như được nhà văn đọc cho nhà văn, tác giả cầu thị, lắng nghe, rút kinh nghiệm, bổ sung khi tái bản là rất thiết thực. Đận đó, tôi gửi tặng sách nhà văn Trần Hoài Dương ở mãi TP Hồ Chí Minh. Ông là người biên tập truyện ngắn cho tôi từ những năm 1975. Tôi thích nhất là được Trần Hoài Dương đọc cho ngay. Ông đọc xong gọi điện cho tôi ngay: “Ưu điểm là em tiêu hết nỗi buồn, tiêu hết vốn sống vào cuốn sách này, nếu viết tiếp cuốn sau, vượt qua mình là khó đấy!”.
Tôi đã viết nhật ký ngày thường để không thể quên sự chia sẻ của nhà văn Trần Hoài Dương. Với tôi, ông là người thầy tận tụy trong biên tập văn chương, kỹ lưỡng từng centimét trên trang bản thảo. Ông giàu kinh nghiệm biên tập, từng trải, chỉ ra sự chưa có nghề của tôi, vụng về trong từng chi tiết của tiểu thuyết. Hoặc có chương còn chưa diễn đạt hết ý của nhân vật, đã nhảy cóc, khiến người đọc thấy hẫng hụt. Ông vừa gợi mở để giúp tác giả nhận ra, sửa chữa khi tái bản.
Một niềm hạnh phúc khác nữa, khi tôi được nhà văn Lê Minh Khuê đọc tiểu thuyết của mình, rồi chị trao đổi với nhà văn Ma Văn Kháng, về một người làm thơ nhảy sang viết tiểu thuyết như tôi, dân văn xuôi mừng lắm thay? Nhờ vậy mà nhà văn
Ma Văn Kháng, đọc nhanh, rồi ông gọi qua điện thoại bàn cho tôi, ông chỉ ra 9 chi tiết hay, từ chi tiết hạt nếp chín trong lá sen, nó trong và thơm thế nào, đến chi tiết lá sấu vàng rơi phủ đầy bàn chân cô gái, khi cô vừa đố người yêu mình tìm ra được ngón chân nhẫn dưới lá sấu chua? Theo ông, chi tiết hay của tiểu thuyết sẽ góp phần nâng đỡ cơ thể khỏe mạnh cho cả tác phầm. Nhà văn Ma văn Kháng khích lệ tôi viết văn xuôi. “Viết càng giản dị càng hay, càng giản dị càng khó”.
4. Nhà văn tự học qua cách đọc của nhà văn khác. Vừa rồi , tôi có đọc tiểu thuyết “Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” của nhà văn Hồ Anh Thái, ông viết về một người ba lần lỡ chuyến bay ở sân bay, với cái cớ bản thảo, và nhân vật đan xen thế sự, sự khác nhau của văn hóa châu Âu và châu Á cho thấy, sự xê dịch rộng của nhà văn, mở ra cho người đọc nhiều kiến thức, hiểu biết khác, ở xứ sở khác ta.
“Bản thảo để lại trong sảnh lễ tân” cũng ám ảnh trong lòng người đọc, hình dung về một Hà Nội cũ, phố Khâm Thiên xửa xưa. Bắt gặp một chi tiết Hợp tác xã đan len thủ công, một lát cắt ký ức, dù cho ai đã sống, đi qua năm tháng đó cũng phải bồi hồi, ngạc nhiên, và không thấy xa lạ, không thấy khiên cưỡng mà cảm nhận không gian, thời gian đó, nó đúng như vậy. Ký ức mà nhà văn Hồ Anh Thái, tua lại như phim, bằng hình ảnh của chữ. Để viết được ngày xưa? Khi nhà văn chưa ra đời, ông đã phải đọc, nghiên cứu rất nhiều, đọc những cuốn sách về Hà Nội, chuyện cũ Hà Nội của nhà văn Tô Hoài. Hồ Anh Thái có sức đọc “khủng khiếp”, cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt… rồi mới ngồi vào viết những trang bản thảo. Sách viết hay, nên tiểu thuyết vừa được dịch ra tiếng Trung. Mới hay chữ nghĩa của nhà văn, chữ nặng trong tim nhà văn, thì chỉ có nhà văn gánh được mà thôi!
Văn chương, còn lại nhân vật chị Dậu, hay Chí Phèo đòi sống lương thiện, “Đôi mắt” của Nam Cao, “Người ngựa, ngựa người” của Nguyễn Công Hoan, Dế mèn của Tô Hoài vẫn lãng du qua thế kỷ, sang cả trời Âu du lịch, mà người đọc có khi nhớ khi quên, có khi tôn vinh, hay có khi lại chìm trong trí nhớ của bàn dân thiên hạ.
Tôi đã rất biết ơn những người thầy đi trước đã dạy tôi những bài học về nghề, chỉ có ngồi viết sẽ tự rút ra kinh nghiệm. Nghề viết nó chuyên biệt, không viết tập thể được, không đổ lỗi cho ai, tác phẩm là đứa con tinh thần của chính nhà văn trước thời cuộc mình sống.