Đừng để Làng ven sông thành Đô thị ven sông
Điều chỉnh Quy hoạch lần này là một cuộc tái cấu trúc không gian rất lớn, tác động đến 16 phường, xã ven sông, với phạm vi nghiên cứu lên tới 11.412 ha đất, dân số hiện trạng khoảng 279.525 người, để hình thành nên một trục cảnh quan-văn hóa-kinh tế mới dọc sông Hồng từ cầu Hồng Hà đến cầu Mễ Sở dài 40 km.
Quy hoạch lần này hội tụ nhiều vấn đề phức tạp phải giải quyết, đó là phòng chống lũ, môi trường, dân cư, đất đai, làng nghề, di sản văn hóa, làng xóm, sinh kế của người dân hai bên bờ sông. Quy hoạch không chỉ tạo nên một đại lộ lớn, mà còn có hệ thống công viên bãi sông quy mô lớn; các không gian văn hóa và tái thiết đô thị như: Quảng trường ven sông, công viên, mặt nước, không gian sáng tạo, nghệ thuật công cộng, kiến trúc biểu tượng.
Theo thống kê, trong khu vực dự án có 123 di tích kiến trúc, trong đó có 1 đi tích cấp quốc gia đặc biệt; 26 di tích quốc gia; 35 di tích cấp thành phố và 61 di tích chưa được xếp hạng cùng 14 điểm lưu niệm Cách mạng và kháng chiến. Dự án xác định 12 cụm làng xóm truyền thống được xử lý theo 3 nhóm với tổng diện tích 1.067 ha; 46.689 hộ với 160.400 người. Trong đó 2 cụm phải di dời; 2 cụm sẽ tái thiết; 8 cụm cải tạo, chỉnh trang có chọn lọc. Điều này cho thấy, Quy hoạch có khả năng thay đổi cấu trúc cư trú của một bộ phận rất lớn cộng đồng dân cư ven sông. Như thế, khả năng cấu trúc “Làng ven sông” sẽ trở thành “Đô thị ven sông” là điều có thể xảy ra! Đây là điều rất đáng lo ngại.
Tại sao lại nói như vậy? Bởi nếu việc chỉnh trang làm tốt thì làng ven sông sẽ được nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng dân cư trong quá trình phát triển. Nhưng nếu chỉnh trang thô bạo để thay vào đó là các lớp nhà ở thấp tầng hiện đại với một cấu trúc đô thị mới thì cấu trúc làng truyền thống bị phá vỡ và “Làng” không còn nữa?!
XÂY DỰNG BẢN ĐỒ CẤU TRÚC VĂN HÓA SÔNG HỒNG
Để giữ được hồn cốt của các làng nghề, rất cần lập Bản đồ cấu trúc văn hóa sông Hồng, chứ không chỉ là Bản đồ di tích. Bản đồ cấu trúc văn hóa sông Hồng gồm các lớp sau: Lớp 1: Di tích kiến trúc; Lớp 2: Làng cổ, làng nghề; Lớp 3: Không gian tín ngưỡng; Lớp 4: Đường làng, bến nước, ao hồ, cây cổ thụ; Lớp 5: Không gian lễ hội và sinh hoạt cộng đồng; Lớp 6: Không gian sản xuất và sinh kế truyền thống. Sau khi có Bản đồ này mới xác định tuyến đường, công viên, quảng trường, khu vực tái thiết đô thị. Đây là tư duy của quy hoạch hiện đại “xác định cấu trúc cần bảo tồn trước rồi mới đặt cấu trúc phát triển mới” thay vì “quy hoạch xong mới tìm cách bảo tồn”.
Đừng chỉ nghĩ mỗi hộ dân được đền bù bao nhiêu…
Với cộng đồng dân cư, ta không nên nghĩ đơn giản là mỗi hộ dân được đền bù bao nhiêu? Mà cần có cái nhìn xã hội rộng hơn. Người dân ở các làng ven hai bờ sông đang sở hữu 5 thứ: Nhà ở-đất-sinh kế-quan hệ cộng đồng và ký ức nơi chốn. Nếu chỉ bồi thường tiền sử dụng đất hay nhà ở thì mới giải quyết được một phần. Như một hộ làm nghề truyền thống ở làng Bát Tràng có: Nhà ở-xưởng làm gốm-cửa hàng trưng bày sản phẩm-quan hệ láng giềng-khách quen-nguồn nguyên liệu-mối quan hệ giao lưu, trao đổi nghề làm gốm-ký ức về gia đình, dòng họ. Các hộ làm nghề truyền thống khác cũng tương tự. Vì thế nếu tái định cư tại chỗ, đưa họ lên ở trong chung cư cao tầng hiện đại thì sẽ không tái tạo được hệ sinh thái nghề truyền thống. Với làng nghề, nguy cơ lớn nhất là bảo tồn cái vỏ mà mất nghề. Còn với cư dân là sự đứt gãy văn hóa cộng đồng, đứt gãy ký ức vốn đã lưu giữ qua nhiều thế hệ.
Trong 16 xã ven sông, thì có những làng nghề nổi tiếng như Bát Tràng, Giang Cao, Kim Lan... Khi thực hiện cải tạo, chỉnh trang mà chỉ quan tâm giữ đình, chùa, cổng làng, ngôi nhà cổ, tên làng là chưa đủ. Bởi những người làm nghề sẽ bị phân tán, xưởng sản xuất không còn, đường giao thông nội bộ trong làng bị phá vỡ, chuỗi sản xuất thương mại bị thay đổi… thì đó là bảo tồn kiến trúc chứ không phải bảo tồn làng nghề.
Trong Quy hoạch đã đặt nguyên tắc bảo tồn khu vực lõi của làng nghề truyền thống, bao gồm các giá trị kiến trúc lịch sử văn hóa vật thể và phi vật thể. Đây là điều cần thiết, nhưng cũng cần phải bảo tồn cả hệ sinh thái kinh tế của làng nghề. Thí dụ với Bát Tràng, đó không đơn thuần là khu dân cư, mà đó là Làng-Nghề - Thương mại - Du lịch - Cảnh quan sông Hồng. Nếu đại lộ và các tuyến giao thông mới làm cho làng Bát Tràng tiếp cận tốt hơn thì sẽ tạo cơ hội cho phát triển du lịch-kinh tế sáng tạo-thương mại sản phẩm thủ công-quảng bá văn hóa Hà Nội. Nhưng nếu giao thông làm đứt gãy cấu trúc làng, tăng giá trị đất và bất động sản thương mại thì làng nghề sẽ bị thương mại hóa quá mức làm thay đổi những truyền thống tốt đẹp của làng nghề vốn được lưu giữ bồi đắp qua hàng trăm năm và được giữ gìn, phát triển qua nhiều thế hệ.
Với 123 di tích, không nên hiểu đó là các điểm di tích đơn lẻ, mà đó là một hệ thống di tích văn hóa kiến trúc, lịch sử và hệ sinh thái như cổng làng, đường làng, nhà ở, bến nước, cây đa, sân đình, vườn cây ao cá, lễ hội cộng đồng…, tất cả sẽ tạo nên một bảo tàng sống hai bờ sông Hồng… Một đô thị hiện đại không nhất thiết phải được xây dựng bằng cách xóa đi những giá trị đang có. Hãy để văn hóa truyền thống được giữ gìn, được phát huy trong cấu trúc không gian đô thị mới!