Ô nhiễm mức nào?
Số liệu tổng hợp của Trung tâm Quan trắc Môi trường (Tổng cục Môi trường) cho thấy, môi trường không khí tại hai thành phố lớn: Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đã bị ô nhiễm nặng về bụi hàng chục năm nay. Từ số liệu quan trắc bụi (PM10) tại các đô thị giai đoạn 2011-2015, thấy rằng chất lượng không khí chưa được cải thiện so với giai đoạn 2006-2010. Hiện nay nồng độ bụi ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tính trung bình cao hơn từ 2-3 lần so với tiêu chuẩn cho phép (TCCP), thuộc loại ô nhiễm nặng. Cục bộ ở những địa điểm có công trường xây dựng nồng độ bụi lớn hơn TCCP từ 3-7 lần, thuộc loại ô nhiễm rất nặng. Đặc biệt, vào những ngày nắng nóng hoặc thời tiết hanh khô tại những “điểm đen” về ùn tắc giao thông, thiếu cây xanh, nhà cao tầng nhiều, sự ô nhiễm càng trở nên nghiêm trọng, gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe đối với người già, trẻ nhỏ.
Ngoài bụi, môi trường không khí tại các thành phố lớn này còn bị ô nhiễm khí VOC (chủ yếu là hơi xăng dầu). Số liệu quan trắc ba năm gần đây cho thấy 100% số điểm đo đều có nồng độ hơi xăng dầu trong không khí ở Hà Nội và Biên Hòa (gần TP Hồ Chí Minh) vượt trị số TCCP. Còn các khí SO2, NO2, CO và O3 còn thấp hơn hoặc xấp xỉ bằng trị số TCCP, và thường chỉ bị ô nhiễm cục bộ.
Hằng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) đều có báo cáo đánh giá chất lượng môi trường không khí. Ngay trong Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2007, đã cảnh báo bởi áp lực phát triển kinh tế-xã hội sẽ dẫn đến suy thoái môi trường. Riêng ở Hà Nội, ước tính lượng khí CO2 sẽ tăng từ 600 nghìn tấn năm 2005, lên 1.400 nghìn tấn năm 2020. Trong khi lượng khí SO2 tăng từ 1.500 tấn năm 2005, lên 2.200 tấn vào năm 2010 và 4.000 tấn vào năm 2020.
Tính toán dài hạn đã cho thấy nguy cơ ô nhiễm rất lớn, lẽ ra ngay từ thời điểm đó chúng ta cần phải xây dựng được một kế hoạch lớn, mang tầm cỡ quốc gia để kiểm soát ô nhiễm không khí. Đó là điều kiện cần thiết để kiểm soát ô nhiễm trong dài hạn.
Cái giá của lỗ hổng trong quản lý
Nói về bài toán quản lý môi trường không khí, trước hết cần phải xác định các nguồn gây ra ô nhiễm chính để phòng ngừa. “Thủ phạm” đầu độc không khí nhiều nhất là phương tiện giao thông, lên đến 70%, và góp tới 85% khí CO vào bầu không khí ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Bụi phát sinh từ cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp ở bên trong và chung quanh thành phố. Bụi từ các hoạt động xây dựng mới và sửa chữa công trình nhà cửa, giao thông, hạ tầng đô thị, cũng như phát tán từ các hoạt động vận chuyển nguyên vật liệu... Hằng năm, vẫn tổ chức những chương trình hành động, nhưng nhìn chung, việc kiểm soát ô nhiễm vô cùng tốn kém, và cũng chưa đầu tư đúng mức nên hiệu quả không nhiều. Một lãnh đạo của ngành như ông Hoàng Dương Tùng, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, phải nói là “vẫn chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc kiểm soát ô nhiễm không khí”, là thực trạng đáng báo động. Một điều nữa, các cơ quan quản lý đô thị chưa làm tròn trách nhiệm bảo vệ môi trường (BVMT) và chưa có sự tự giác tuân thủ luật pháp BVMT của mỗi người dân, chủ phương tiện.
Điều đó kéo theo một hệ quả vô cùng nghiêm trọng. Trong một kết quả đề tài gần nhất “Nghiên cứu đánh giá thiệt hại sức khỏe và kinh tế do ô nhiễm không khí gây ra ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh”, do Cục Y tế (Bộ Giao thông vận tải) thực hiện, cho thấy tỷ lệ người bị mắc các bệnh đường hô hấp ở Hà Nội cao hơn TP Hồ Chí Minh. Nguyên nhân do ô nhiễm không khí ở Hà Nội lớn hơn và kết hợp với sự biến đổi mạnh hơn, đặc biệt là thời tiết thay đổi trong mùa đông. Nghiên cứu này cũng cho kết quả xác định thiệt hại kinh tế do ô nhiễm không khí gây ra bệnh tật, trung bình mỗi người dân mỗi ngày ở Hà Nội là 1.538 đồng, ở TP Hồ Chí Minh là 739 đồng. Với ba triệu dân nội thành thì mỗi năm Hà Nội thiệt hại khoảng 165 tỷ đồng. Với năm triệu dân nội thành TP Hồ Chí Minh thì mỗi năm thiệt hại khoảng 135 tỷ đồng. Điều đó buộc chúng ta phải trăn trở, suy nghĩ. Chúng ta mới chữa “phần ngọn”, để rồi lại phải khắc phục hậu quả, với mức tốn kém khổng lồ.
Tăng trách nhiệm và phối hợp
Nhìn một cách căn cơ, chúng ta đang thiếu cơ chế phối hợp liên ngành trong quản lý đô thị. Mỗi ngành chỉ đang quản việc của mình mà còn khó bởi sự phân chia trách nhiệm còn chồng chéo, thiếu sự chia sẻ thông tin. Luật Bảo vệ Môi trường 2014 đã quy định, Bộ TN-MT thống nhất quản lý tổng hợp các vấn đề về môi trường. Tuy nhiên để thực hiện hiệu quả, việc xây dựng một cơ chế phối hợp giữa các ngành là vô cùng cần thiết. Thí dụ như phối hợp thanh tra xây dựng, thanh tra môi trường với cấp phường, quận kiểm soát chặt chẽ các công trường xây dựng; xây dựng cơ chế phối hợp giữa cảnh sát giao thông, Vụ Môi trường và Cục Đăng kiểm (Bộ Giao thông vận tải) tiến hành định kỳ kiểm tra quy chuẩn môi trường về khí thải đối với tất cả các phương tiện giao thông cơ giới, cấm lưu hành đối với các xe không đáp ứng yêu cầu. Ngoài ra, Tổng cục Môi trường cần xây dựng kế hoạch hành động với Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), Vụ Khoa học, Giáo dục, TN-MT (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Xây dựng), tìm ra các giải pháp, kế hoạch hành động thiết thực. Tiếp đó là tăng cường hệ thống giao thông công cộng, giảm thiểu phương tiện cá nhân, khuyến khích sử dụng nguồn năng lượng sạch, thân thiện với môi trường, như xăng E5, khí hóa lỏng. Sau nữa là tuyên truyền người dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường sống.
Đối với điều kiện của nước ta hiện nay, mục tiêu kiểm soát ô nhiễm không khí trong kế hoạch hành động quốc gia vẫn là một thách thức lớn. Bởi các chất NOx, CO phát sinh từ đốt nhiên liệu, ngoài biện pháp giảm thiểu bằng kiểm soát, có hiệu quả nhất là sử dụng nhiên liệu sạch (than sạch, dầu sạch, khí thiên nhiên…), điều này không hề dễ dàng với điều kiện kinh tế hiện nay. Việc sử dụng thiết bị lọc chất ô nhiễm, thông thường chỉ xử lý được bụi và khí SO2, còn khí NOx và CO rất khó xử lý bởi nhập công nghệ vô cùng đắt tiền. Dù vậy chúng ta vẫn phải đặt quyết tâm thực hiện một cách tốt nhất. Để đạt được mục tiêu, phải lấy phòng ngừa làm chính, kết hợp với xử lý, khắc phục, từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường. Điều đó dựa vào sự quyết tâm của nhiều bộ, ngành liên quan và sự tham gia tích cực của toàn thể cộng đồng dân cư đô thị.
Hiện Bộ TN-MT đang dự thảo Kế hoạch Hành động Quốc gia về kiểm soát ô nhiễm không khí để trình Chính phủ. Mục tiêu đặt ra đến năm 2020, giảm 20% lượng bụi, SO2, NOx, CO phát sinh từ các cơ sở sản xuất xi-măng, nhiệt điện, thép, hóa chất, phân bón; giảm 10% lượng bụi, SO2, NOx, CO phát sinh từ các cơ sở sản xuất khác; giảm 10% lượng bụi, SO2, NOx, CO phát sinh từ các phương tiện giao thông vận tải.