“Xây dựng được một ngôi trường mới chỉ là bước đầu”, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh khi nói về các trường phổ thông nội trú (PTNT) liên cấp tại xã biên giới đất liền vừa mới khánh thành.
Dịp này, phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng về việc vận hành hiệu quả các trường PTNT liên cấp vùng biên, bảo đảm đội ngũ giáo viên và mở ra cơ hội học tập, nghề nghiệp cho học sinh, qua đó góp phần tạo nguồn nhân lực cho quê hương.
Phóng viên (PV): Thưa Bộ trưởng, khi các trường PTNT liên cấp hoàn thành và đi vào hoạt động, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) sẽ quản lý thế nào để bảo đảm các trường được vận hành đồng bộ, hiệu quả, không rơi vào tình trạng “xây xong nhưng thiếu điều kiện để hoạt động”?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Xây dựng được một ngôi trường mới chỉ là bước đầu. Điều quan trọng hơn là trường đó phải vận hành tốt, có đủ thầy, cô, có điều kiện dạy và học tốt, chăm lo được đời sống của học sinh và thật sự tạo ra chất lượng giáo dục tốt hơn. Vì vậy, ngay từ khi triển khai xây dựng, chúng tôi đã xác định phải chuẩn bị đồng thời cả cơ sở vật chất, đội ngũ, cơ chế vận hành và nguồn lực thường xuyên, không chờ xây xong trường mới bắt đầu tính đến những điều kiện này.
Đối với các trường PTNT liên cấp tại xã biên giới, yêu cầu vận hành còn cao hơn một trường phổ thông thông thường. Ngoài phòng học và thiết bị dạy học, phải bảo đảm đồng bộ ký túc xá, bếp ăn, nước sạch, y tế trường học, vệ sinh an toàn thực phẩm, an ninh, an toàn cho thầy và trò; đồng thời có đủ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên phù hợp đặc thù trường nội trú, nhiều cấp học.
Bộ GD&ĐT thực hiện quản lý thống nhất về chuyên môn, tiêu chuẩn và chất lượng; phối hợp với các bộ, ngành và địa phương hoàn thiện các quy định về tổ chức, vị trí việc làm, đội ngũ và các điều kiện bảo đảm hoạt động. Địa phương trực tiếp tổ chức vận hành từng trường và phải chủ động xây dựng phương án tuyển sinh, đội ngũ, cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức ăn, ở, chăm sóc và quản lý học sinh.
PV: Thu hút giáo viên về vùng biên đã khó, giữ chân giáo viên giỏi còn khó hơn. Theo Bộ trưởng, cần những chính sách gì để giáo viên có thể yên tâm gắn bó lâu dài với các trường vùng biên?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Muốn có trường tốt trước hết phải có người thầy tốt. Với vùng khó khăn, miền núi, biên giới, vấn đề không chỉ là tuyển đủ giáo viên mà quan trọng hơn là làm sao để những thầy, cô có năng lực, tâm huyết yên tâm làm nghề và gắn bó lâu dài.
Trong Thư gửi ngành giáo dục nhân dịp năm học mới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã dành những lời rất trân trọng đối với các thầy, cô đang “bám trường, bám lớp” nơi miền núi, biên giới, hải đảo; đồng thời nhấn mạnh: “Chăm lo giáo dục trước hết là chăm lo cho người thầy”. Tôi cho rằng, đây cũng chính là điểm xuất phát khi xây dựng chính sách đối với nhà giáo ở những địa bàn khó khăn.
Chính sách đối với nhà giáo vùng biên phải được nhìn một cách tổng thể. Thu nhập và phụ cấp là rất quan trọng, nhưng chưa đủ. Cùng với chế độ đãi ngộ phù hợp với mức độ khó khăn của địa bàn, phải quan tâm đến nhà ở công vụ, điều kiện sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe, môi trường làm việc, cơ hội đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp và những điều kiện thiết yếu đối với gia đình của giáo viên.
Quan điểm chung là nơi nào khó khăn hơn thì phải được hỗ trợ nhiều hơn; giáo viên công tác ở nơi khó khăn hơn phải được đãi ngộ tốt hơn. Chính sách phải đủ sức bù đắp những bất lợi về điều kiện làm việc và sinh hoạt, để người thầy cảm nhận được sự ghi nhận, tôn trọng và có cơ hội phát triển nghề nghiệp khi lựa chọn gắn bó với vùng khó khăn.
Cùng với đó, cần giảm những áp lực hành chính không cần thiết để thầy, cô dành nhiều thời gian, tâm sức hơn cho chuyên môn và học sinh.
Về lâu dài, cần kết hợp tuyển dụng, điều động, biệt phái với việc đào tạo nguồn giáo viên là người địa phương. Đây là lực lượng hiểu văn hóa, ngôn ngữ, điều kiện sống và thường có khả năng gắn bó lâu dài nhất với học sinh và cộng đồng.
Mục tiêu cuối cùng vẫn là bảo đảm ở đâu có học sinh, ở đó có giáo viên; không chỉ đủ về số lượng mà phải từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ. Bộ GD&ĐT tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách đối với nhà giáo công tác ở vùng biên giới; các địa phương chủ động có chính sách hỗ trợ phù hợp điều kiện thực tế, đồng thời bảo đảm các điều kiện để nhà giáo yên tâm gắn bó lâu dài.
PV: Thưa Bộ trưởng, làm thế nào để những ngôi trường vùng biên không chỉ giúp học sinh học tốt, mà còn giúp các em nhận diện năng lực, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp và tạo cơ hội để sau này trở về đóng góp cho quê hương?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Tôi cho rằng trước hết không nên nhìn việc một học sinh vùng biên học tốt rồi đi học đại học, học nghề hoặc làm việc ở một nơi khác như một sự thất thoát nguồn lực. Giáo dục phải mở ra cơ hội để mỗi người trẻ phát triển tối đa năng lực, được lựa chọn con đường phù hợp và có khả năng đóng góp cho xã hội.
Điều quan trọng là giáo dục không phải để giữ một người trẻ ở một địa điểm nhất định, mà để hình thành năng lực, khát vọng và trách nhiệm cống hiến; mở ra cơ hội để các em phát triển và lựa chọn cách đóng góp phù hợp cho xã hội và quê hương.
Tuy nhiên, nếu những địa bàn khó khăn liên tục không giữ được hoặc không thu hút trở lại nguồn nhân lực có chất lượng thì khoảng cách phát triển rất khó được thu hẹp. Vì vậy, bài toán không phải là giữ các em ở lại bằng mọi cách, mà là tạo ra cơ hội để các em có thể và muốn lập nghiệp, phát triển, đóng góp cho quê hương.
Điều đó đòi hỏi giáo dục phải gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Hướng nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo đại học phải gắn với nhu cầu nhân lực thực tế; đồng thời cần có cơ chế đặt hàng đào tạo, học bổng, hỗ trợ học tập và chính sách sử dụng nhân lực trong các lĩnh vực địa phương đang cần. Quan trọng hơn, địa phương phải tạo được việc làm, môi trường làm việc, thu nhập và cơ hội phát triển để người trẻ muốn trở về.
Nhà trường cũng phải giúp các em hiểu mình, nhận ra năng lực, sở thích, hình thành kỹ năng và từng bước lựa chọn con đường học tập, nghề nghiệp phù hợp. Đối với các trường ở vùng biên, hướng nghiệp càng phải gắn với điều kiện thực tế và định hướng phát triển của địa phương. Học sinh cần được tiếp cận sớm với các ngành nghề, mô hình sản xuất, kinh doanh và những cơ hội việc làm tại địa bàn; được trải nghiệm, thực hành và tiếp xúc với cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất cũng như những người đang làm nghề thành công tại quê hương.
Chúng ta cần mở ra nhiều con đường cho học sinh: Tiếp tục học THPT, học nghề, cao đẳng, đại học hoặc tham gia thị trường lao động với kỹ năng phù hợp. Các trường vùng biên cũng cần chú trọng giáo dục STEM, ngoại ngữ, năng lực số, kỹ năng nghề nghiệp, hoạt động trải nghiệm; đồng thời khai thác những giá trị văn hóa, lịch sử, điều kiện tự nhiên và thế mạnh kinh tế của địa phương.
Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và AI thay đổi rất nhanh, điều quan trọng không chỉ là các em nhớ được bao nhiêu kiến thức mà phải hình thành khả năng tự học, tư duy độc lập, sáng tạo và thích ứng. Theo tôi, mỗi học sinh khi rời trường phải biết mình có khả năng gì, muốn làm gì và có con đường nào để biến khả năng đó thành một nghề nghiệp, một cuộc sống tốt đẹp hơn.
PV: Nếu nhìn 10-15 năm tới, Bộ trưởng kỳ vọng những học sinh trưởng thành từ các trường vùng biên sẽ đóng góp như thế nào cho quê hương?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Tôi kỳ vọng giá trị lớn nhất của chương trình này kết tinh ở những thế hệ học sinh trưởng thành từ đó. Tôi mong các em trước hết trở thành những công dân có tri thức, kỹ năng, sức khỏe, nhân cách, có khả năng tự lập và làm chủ cuộc sống của mình; có tinh thần ham học, bản lĩnh, khả năng sáng tạo, lòng trung thực, nghị lực vươn lên và khát vọng cống hiến.
Từ những ngôi trường này sẽ hình thành một thế hệ trẻ có khả năng đi xa nhưng không xa rời quê hương. Có em trở về trực tiếp làm giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, cán bộ, doanh nhân; có em làm việc ở nơi khác nhưng vẫn có thể đưa tri thức, công nghệ, nguồn lực và cơ hội phát triển trở lại địa phương. Đó cũng là một cách rất thiết thực để đóng góp cho quê hương.
Ý nghĩa của những ngôi trường này còn rộng hơn việc đào tạo nhân lực. Ở vùng biên giới, trường học còn là một thiết chế quan trọng của cộng đồng; góp phần nâng cao dân trí, giữ gìn bản sắc văn hóa, tạo sinh kế và cơ hội phát triển, củng cố sự gắn bó của người dân với quê hương.
Để đạt được điều đó, các cấp ủy, chính quyền và toàn xã hội cần tiếp tục đầu tư thiết thực cho giáo dục, nhất là ở những địa bàn khó khăn, để nơi sinh ra hay hoàn cảnh gia đình không trở thành rào cản đối với con đường học tập và tương lai của mỗi người. Tôi cho rằng, đây chính là ý nghĩa sâu xa nhất của việc đầu tư cho giáo dục ở vùng biên.
Vì vậy, đầu tư cho những trường học này không chỉ nhằm thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các vùng miền. Đây là đầu tư cho con người, cho tương lai của từng gia đình, cho sự phát triển bền vững của địa phương và cho sự vững mạnh lâu dài của vùng biên giới quốc gia.
PV: Xin trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!
(Còn nữa)
Mở cánh cửa tương lai cho học sinh vùng biên (kỳ 3)