Đường đi của ngòi bút

Chiếc thang máy đồ sộ đưa chúng tôi xuống sâu lòng đất. Thang máy mỏ than Hà Lầm (Quảng Ninh) không thơm tho như lên khách sạn, không thể thanh lịch như ở công sở hay chung cư, mà thô nhám vách sắt và sực mùi dầu, dây xích trần quện mỡ, nước từ trần thang rỉ tí tách ướt những vai áo. Hơn hai chục người cũng đứng trong chiếc hầm di động ẩm ướt ấy được, vừa nói cười vừa thầm hồi hộp theo chiều thang đi xuống trong vùng tranh tối tranh sáng.

Các nhà văn, nhà thơ, nhà báo trước khi xuống thực tế hầm than tại mỏ Hà Lầm. Ảnh tư liệu
Các nhà văn, nhà thơ, nhà báo trước khi xuống thực tế hầm than tại mỏ Hà Lầm. Ảnh tư liệu

1. Lòng đất sâu mở ra những hành lang rộng tỏa theo nhiều ngách, hắt sáng ánh điện. Có khu vực lát gạch men trắng cả trên tường nhưng tất nhiên đã bám mờ bụi than rồi, có lắp vòi nước sạch và bồn inox cho công nhân uống. Đoạn dẫn vào vỉa than, lối đi sần sùi, lồi lõm bên cạnh những thiết bị điện lớn. Những đoạn hầm lép nhép bước chân đi ủng trên đất ướt, bùn than dính bết. Áo thợ xanh, những khuôn mặt da nâu, tất cả xám quánh lại. Dưới sâu mấy trăm mét, ánh sáng yếu hơn trên mặt đất nên khi anh em công nhân lên khỏi hầm, đồng loạt như ùa vào nhà tắm thì trông càng đen nhẻm. Nhà thơ Hoàng Việt Hằng từng xuống hầm mỏ gặp công nhân đã hai lần, bà ở lại trên này bắt chuyện với công nhân vừa tan ca. Mấy cậu vừa ngồi bệt xuống sàn cởi bộ bảo hộ lao động lem nhem, rối rít xua tay, ấy ấy u ơi u đừng chụp bọn con! “U” mới “dỗ”, u còn đẻ ra được chúng mày ấy, cho u hỏi tí câu chuyện nhá…

Kiểu nói chuyện của “u già” tóc bạc cắt ngắn xởi lởi, hỉ hả như bà mẹ ở nhà, các “con” vui vẻ bộc bạch, đứa ở Bình Liêu, đứa bên Hồng Gai, tỉnh này tỉnh khác, làm lâu cũng nhiều mà thời vụ cũng có. Chuyện nghề ngày ngày bước xuống lòng đất tối, lên thấy ánh mặt trời mới thêm một lần nhận ra mình an toàn, cứ thế mà tâm tình các “con” đi vào bài ký, câu thơ của “u Hằng”. Nếu là tôi, thỉnh thoảng đăng bài bút ký, tản văn của nhà thơ Hoàng Việt Hằng, có nhân vật ở địa chỉ cụ thể, tôi đều gửi cô hai, ba, dăm tờ để ngoài tờ báo lưu, cô còn gửi cho nhân vật của mình hay chỗ nhà máy, trường học… trong bài viết ấy, cho mọi người cùng đọc vui.

Nhớ trước lúc “đi lò”, đoàn nhà văn, nhà thơ dự Ngày thơ Việt Nam 2026 ở Hạ Long (Quảng Ninh) đã được vào phòng máy xem hệ thống hàng chục màn hình theo dõi tình hình an toàn, hoạt động sản xuất ở tất cả các đường hầm. Rồi mặc đồ bảo hộ lao động, đeo bình oxy dự phòng ngồi nghiêm chỉnh như bộ đội, nghe phổ biến kỹ các quy định trước khi ra khu vực “miệng hầm”. Điện thoại đã cất lại trong tủ trên phòng thay đồ để bảo đảm an toàn phòng, chống cháy nổ. Một đồng chí cán bộ vẫn phải đứng ở lối ra vào để nhắc.

172.jpg
Nhà văn Xuân Thủy phỏng vấn nhân viên ga Hải Vân Bắc.

2. Có cảm giác không chỉ trong đơn vị bộ đội mới “thiết quân luật”. Với đội ngũ công nhân, nhất là ở mỏ than thì luôn luôn: “An toàn là bạn, tai nạn là thù”, nên mọi nguyên tắc phải được tuân thủ đầy đủ và nhắc nhau mỗi ngày làm việc. Tính kỷ luật cao ở mỏ Hà Lầm, chúng tôi còn cảm nhận lại trên chuyến tàu khi đi thực tế đường sắt Hà Nội-Huế-Đà Nẵng đợt giữa tháng 5 vừa rồi. Trên khoang lái, ngoài hai lái tàu, ai không có nhiệm vụ đã được thống nhất trước thì đừng có “lảng vảng”. Khoang lái là nơi bảo đảm an toàn cho hàng chục toa tàu, hàng trăm hành khách. Và cũng bởi quá chật. Hai nhà văn trong đoàn quá thiết tha được trải nghiệm “không khí đầu tàu” nên xin phép trước và trưởng đoàn thực tế là người trong ngành phải làm việc cẩn thận với trưởng tàu, xin ý kiến lãnh đạo rồi nhà văn mới được lên trên ấy “hưởng” không khí… nóng, bụi và đứng mỏi nhừ suốt cả tiếng đồng hồ tàu chạy. Nhưng nhờ biết chịu đựng mà “thu hoạch” được nhiều bức ảnh quang cảnh đường dài “hoành tráng” và hỏi được bao nhiêu chuyện, nào tâm trạng người lái tàu những đêm giao thừa; nào ánh mắt dõi căng vào đêm đen khi tàu qua những ruộng đồng, dải núi; cả tâm hồn thi sĩ của người nhà tàu nữa, khi trước mặt bừng lên sắc vóc phá Tam Giang, vịnh Lăng Cô “nét căng” như ảnh lịch, những mảng màu đồng vàng, núi thẫm xanh và trời mây trắng rực rỡ…

Thấy chưa đủ trong hành trình từ Huế sang Đà Nẵng, rồi từ ga Đà Nẵng lên thăm ga Hải Vân Bắc trong buổi trưa nắng gắt ở giữa rừng heo hút lưng núi, nhà văn Xuân Thủy khi đã trở về Đà Nẵng rồi lại xin được quay lại. Anh muốn ở cùng cán bộ, nhân viên Hải Vân Bắc một hôm để thấm hơn những tâm tình, ngẫm ngợi của người gác ghi đứng một mình trong đêm, người tuần đường lặng lẽ và những sinh hoạt cơm nước giản dị của các anh em mà tấm áo đồng phục xanh mơ nhìn lúc nào cũng thẫm hơn vì mồ hôi. Xuân Thủy còn hẹn luôn với Trần Ngọc Tiến, vừa là công nhân lái máy Đội máy đẩy đèo Hải Vân, cũng là một tác giả mê viết, một tay bấm máy tài hoa. Hai anh em sẽ đi lên thực tế Tây Giang. Kế hoạch trở về Hà Nội của Xuân Thủy theo đoàn, vì thế mà thay bằng chuyến đi ngược lên cao nữa và đi xa nữa về phía Tây Nam. Đủ thấy với người viết, cứ đi và được thấy, được nghe, được nhận ra những điều mới mẻ, khác lạ, những khuất lấp trầm lắng, thầm lặng trong cuộc đời ngổn ngang, nó cuốn hút thế nào. Nó làm cho tâm tư người viết cứ phải băn khoăn, có khi dằn vặt, làm sao phải hiểu, phải viết điều gì về những con người, công việc ấy. Có lẽ cũng bởi muốn đào sâu, hiểu kỹ và để được thế thì phải trải nghiệm thật, phải… “hai cùng” thật - là “cùng ăn”, “cùng ở”, chứ “cùng làm” thì thôi, nhà văn chỉ cần bám theo quan sát cũng được - mà mấy năm trước, Xuân Thủy đã đi nhiều tháng, nhiều chuyến, đến nhiều đồn biên phòng Thanh Hóa. Các tác phẩm bút ký, phóng sự của anh giành giải báo chí quốc gia, giải thưởng văn học nghệ thuật, báo chí 5 năm của Bộ Quốc phòng và được đánh giá cao về sự sống động, chân thực. Tôi nghĩ, còn một giải thưởng nữa mà tác giả thầm trao cho chính mình, đó là sự hưng phấn, là niềm tin bản thân đã dấn thân và làm được điều mà lâu lâu trước đó không dễ thực hiện.

173.jpg
Nhà văn Trung Sỹ phỏng vấn cán bộ quân y tại địa bàn vùng sâu ở Gia Lai.

3. Lại nghĩ đến các nhà văn trong đoàn thực tế Tây Nguyên hai năm trước. Những chuyến đến tận nơi, lên tận chốn như thế mà người viết phải lăn lóc cả chục ngày hết lên xe di chuyển từ đơn vị nọ đến nông trường kia, lại cuốc bộ sâu vào trong buôn làng, tối om om vào vườn cao su xem công nhân cạo mủ…, vẫn cần lắm trong thời buổi thông tin về địa hình, địa mạo, bản sắc vùng miền, lao động địa phương… tràn ngập trên mạng. Nhà văn cựu chiến binh biên giới Tây Nam Trung Sỹ ngoài lục thập vẫn “xăng xái” như thuở ba-lô quân trang, gạo, đạn, súng mấy chục cân trên người. Ông “nhoay nhoáy” dùng máy tính bảng ghi lời giới thiệu của các cán bộ đưa đường, tâm sự “khởi nghiệp” của anh chị em công nhân quê Thanh Hóa, Thái Bình (nay là Hưng Yên), Hà Tĩnh… vào Gia Lai tìm sinh kế mới. Rong ruổi những đường vắng ven biên, nhà văn khát khao được thấy lại rừng khộp mà năm xưa từng hành quân. Rồi bỗng òa ra những vùng cây bụi, những thân sém lá trơ trụi vươn khẳng khiu ven quốc lộ còn sót lại, nhà văn sung sướng bồi hồi, nán lại lúc lâu chụp ảnh. Câu chuyện ký ức đóng quân nơi những vạt rừng thấp, ra suối cạn lấy nước thấy cả cặp hổ đang vờn nhau và những cuộc cầm cự, truy đuổi giặc trở lại dọc đường. Tôi vừa được lắng vào cái không khí hào sảng những tháng ngày lửa đạn ruổi rong đã gần nửa thế kỷ, vừa “bập” vào những nhịp thở rờ rỡ cao nguyên cần lao hôm nay. Không “hổ” là tay viết giàu trải nghiệm, cầm bút muộn hơn nhiều người nhưng chữ nghĩa đầy chất sống, về đến Hà Nội là nhà văn Trung Sỹ sớm hoàn thành những tác phẩm nóng hổi của mình, nơi mà cuộc đời riêng, nhiệm vụ giữ dân, giữ đất của bao người lính cứ xoắn bện bằng những chi tiết được đón bắt nhanh nhạy trong chuyến đi.

Tôi trân trọng nữa là sau chuyến thực tế các đơn vị kinh tế quốc phòng, trồng cao su, nuôi bò, khám chữa bệnh cho dân lần đó, ngoài bài viết gửi cho tôi, nhà văn Trung Sỹ giới thiệu mấy cựu chiến binh cầm bút nữa, là người bắc nhưng đã từ lâu ở lại Tây Nguyên lập nghiệp. Đã dành hết tuổi trẻ cầm súng rồi, qua được lằn ranh sinh tử mà sống làm người bình thường, viết lách cũng chỉ để hoài niệm làng quê cũ hay “khoe” việc vun xới cà-phê, hồ tiêu, chẳng để cầu danh. Sao tôi cứ thích cách kể chân thật qua mấy tản văn của những “tác giả trẻ” mà tuổi đã cao ấy. Kể bằng sự điềm tĩnh của người đi qua bao thời vận, những chuyện đất, chuyện người mộc mạc hòa vào tập quán, sinh nhai. Tôi mong sẽ có nhiều người lính “vô danh” từng cầm súng sẽ cầm bút kể chuyện mình, chuyện đồng đội, bẵng hữu, đồng bào qua tháng năm khốn khó.