Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.
TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

- Thưa ông, hiện nay việc phá dỡ công trình xây dựng là vấn đề lớn ở các đô thị, chất thải xây dựng đã và đang được xử lý như thế nào?

- Theo các nghiên cứu, hiện nay chất thải xây dựng (còn gọi là xà bần) chiếm khoảng 10-12% tổng lượng chất thải đô thị trên phạm vi cả nước; riêng tại các đô thị lớn có tốc độ đô thị hóa và xây dựng cao, tỷ lệ này có thể đạt 20-25%. Theo báo cáo của Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025 tổng khối lượng chất thải phát sinh trên toàn quốc khoảng 72.315 tấn/ngày; trong đó, khu vực đô thị khoảng 39.153 tấn/ngày (chiếm tỷ lệ 54%). Trong vòng bốn năm, từ năm 2022 đến 2025, khối lượng chất thải tăng khoảng 10%, trung bình 2,5%/năm.

Nguồn phát sinh chất thải xây dựng chủ yếu đến từ hoạt động phá dỡ công trình cũ; hoạt động giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án phát triển đô thị, giao thông và hạ tầng kỹ thuật; xây dựng mới các công trình dân dụng, công nghiệp; cùng với các hoạt động sửa chữa, bảo trì công trình trong quá trình sử dụng.

Thành phần của chất thải xây dựng bao gồm đất đào, cát, bùn và vật liệu san nền; bê-tông, bê-tông cốt thép, gạch, ngói và các vật liệu xây truyền thống từ các công trình bị phá dỡ; nhựa đường từ các công trình giao thông; kim loại như thép, nhôm, đồng; gỗ, kính, nhựa, cao su và các vật liệu hoàn thiện khác. Trong đó, đất đào, bê-tông, gạch và vật liệu xây dựng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về khối lượng, trong khi thép và các kim loại tuy chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nhưng có giá trị kinh tế tái chế cao.

Phần lớn chất thải được xử lý theo phương thức truyền thống là vận chuyển đến các bãi đổ thải gây ra việc quá tải ở các bãi chôn lấp hoặc sử dụng làm vật liệu san lấp, có giá trị thấp. Tỷ lệ tái sử dụng, tái chế còn ở mức thấp, dẫn đến sự lãng phí một tài nguyên vật liệu lớn, gia tăng nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên và làm mất đi cơ hội giảm phát thải khí nhà kính.

- Từ góc nhìn của chuyên gia, xin ông phân tích về những vướng mắc đang cản trở quá trình thu hút đầu tư vào lĩnh vực tái chế phế thải xây dựng?

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, đã quy định rõ đất, đá và chất thải rắn phát sinh từ hoạt động xây dựng được tái sử dụng làm vật liệu xây dựng hoặc san lấp mặt bằng theo quy định. Hay tại mục 5 của Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 3/2/2019 của Chính phủ về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 1/2019 đã thống nhất chỉ đạo về phương án giao đầu mối quản lý nhà nước về chất thải rắn: Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) là cơ quan đầu mối, thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về vấn đề rác thải và xử lý rác thải trên địa bàn.

Kể từ ngày 1/7, Nghị định số 209/2026/NĐ-CP về việc quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xây dựng về quản lý vật liệu xây dựng có hiệu lực. Nghị định này sẽ thay thế hoàn toàn cho Nghị định số 09/2021/NĐ-CP trước đây nhằm tạo hành lang pháp lý toàn diện hơn trong việc kiểm soát vật liệu xây dựng đầu vào, đồng thời thúc đẩy các chính sách ưu đãi, khuyến khích sử dụng vật liệu xanh và tái chế.

Tuy nhiên, việc đưa phế thải xây dựng vào chuỗi tái chế tuần hoàn trên thực tế vẫn đang đối mặt với nhiều nút thắt: Một là, thiếu hành lang kỹ thuật. Hiện nay chúng ta chưa có các bộ tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cụ thể để phân loại, chứng nhận chất lượng cho cốt liệu tái chế (như bê-tông nghiền, gạch vỡ) gây ra tâm lý e ngại cho các chủ đầu tư, tư vấn thiết kế và nhà thầu không dám đưa vật liệu tái chế vào các công trình có vốn từ ngân sách (đầu tư công) vì sợ sai phạm hoặc không được nghiệm thu.

Hai là, giá trị kinh tế không cao. Chất thải xây dựng thường có giá trị thương mại sau tái chế thấp, chi phí vận chuyển và chi phí cho bãi tập kết chất thải lớn, dẫn đến giá thành sử dụng vật liệu tái chế lớn hơn so sử dụng vật liệu xây dựng tự nhiên. Ba là, người dân chưa có thói quen phân loại tại nguồn.

5-2.jpg
Viện Vật liệu xây dựng đẩy mạnh nghiên cứu các loại vật liệu thân thiện môi trường. Ảnh: VĂN HỌC

- Như vậy, đâu là giải pháp hướng tới quản lý, biến phế thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, thưa ông?

- Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý. Phải chuyển đổi sang “tư duy xanh” trong quản lý, sản xuất, tiêu thụ vật liệu xây dựng. Hiện nay, phần lớn chất thải xây dựng vẫn được quản lý như chất thải cần vận chuyển và chôn lấp. Trong khi đó, nhiều quốc gia đã chuyển sang coi đây là tài nguyên vật liệu thứ cấp của đô thị. Vì vậy, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng quản lý vòng đời vật liệu xây dựng, quy định trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu và đơn vị phá dỡ trong việc thu hồi, phân loại và tái sử dụng vật liệu. Các chương trình cải tạo đô thị, giải phóng mặt bằng và phá dỡ công trình cần được lồng ghép yêu cầu về kinh tế tuần hoàn ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.

Thứ hai, bắt buộc phân loại vật liệu ngay từ khâu phá dỡ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hiệu quả tái chế phụ thuộc rất lớn vào công tác phân loại tại nguồn. Cần chuyển từ phương thức “đập bỏ đồng loạt” sang phương thức “tháo dỡ có chọn lọc”, trong đó bê-tông, thép, gạch, gỗ, kính và các vật liệu khác được tách riêng trước khi vận chuyển. Việc phân loại tại nguồn không chỉ nâng cao chất lượng vật liệu tái chế mà còn làm giảm đáng kể chi phí xử lý về sau.

Thứ ba, xây dựng thị trường vật liệu xây dựng tái chế, vật liệu xanh. Một trong những nguyên nhân khiến chất thải xây dựng chưa được tái chế hiệu quả là thiếu đầu ra cho sản phẩm tái chế. Do đó cần ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với vật liệu tái chế; chính sách ưu tiên sử dụng vật liệu tái chế, áp dụng cơ chế mua sắm xanh, yêu cầu một tỷ lệ nhất định vật liệu tái chế trong các dự án sử dụng vốn ngân sách.

Thứ tư, hình thành hạ tầng tái chế chất thải xây dựng. Nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng cường công tác quản lý chất lượng, cần hình thành các trung tâm tái chế chất thải xây dựng tập trung, thực hiện các công đoạn nghiền bê-tông thành cốt liệu tái chế; tái chế nhựa đường; tái chế gạch, kim loại và vật liệu xây dựng khác. Thúc đẩy áp dụng công nghệ nghiền tại chỗ.

Thứ năm, ứng dụng công nghệ số trong quản lý phế thải xây dựng đô thị. Các công nghệ như BIM, GIS, và trí tuệ nhân tạo có thể được sử dụng để dự báo khối lượng vật liệu phát sinh từ các dự án phá dỡ, theo dõi dòng vật liệu tái chế và kết nối cung-cầu trên thị trường vật liệu thứ cấp.

Thứ sáu, tăng cường chế tài xử lý vi phạm và kiểm soát đổ thải trái phép. Hoàn thiện hệ thống chế tài đối với các hành vi đổ chất thải không đúng nơi quy định, không thực hiện phân loại chất thải xây dựng tại nguồn, vận chuyển chất thải không đúng quy trình hoặc gây ô nhiễm môi trường trong quá trình xử lý. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giám sát hoạt động vận chuyển, xử lý chất thải xây dựng. Bên cạnh các biện pháp xử phạt hành chính, cần nghiên cứu áp dụng cơ chế buộc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại môi trường và công khai thông tin vi phạm nhằm nâng cao tính răn đe.

- Không ít ý kiến cho rằng, Nhà nước có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế tín chỉ carbon đối với vật liệu tái chế nhằm ghi nhận giá trị giảm phát thải, tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp. Theo ông, làm sao để tạo động lực cho doanh nghiệp, khi họ tham gia thị trường tín chỉ carbon?

- Đây là một đề xuất có cơ sở khoa học trong bối cảnh nhu cầu vật liệu ngày càng lớn, tài nguyên thiên nhiên dần suy giảm và yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao. Chất thải xây dựng nếu được tái chế, tái sử dụng thay vì chôn lấp không chỉ giảm áp lực lên quỹ đất, giảm ô nhiễm môi trường mà còn góp phần tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, giảm tiêu hao năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính. Vì vậy, việc nghiên cứu cơ chế ghi nhận lượng phát thải được cắt giảm từ hoạt động tái chế chất thải xây dựng, sản xuất vật liệu tái chế dưới dạng tín chỉ carbon là hướng đi cần được quan tâm, từ đó từng bước tích hợp vào thị trường carbon trong nước. Nguồn thu từ tín chỉ carbon sẽ tạo thêm động lực kinh tế cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ tái chế, góp phần hình thành thị trường vật liệu xây dựng tái chế và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực xây dựng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cần tiếp tục đổi mới công nghệ, thiết bị... nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm vật liệu xây dựng xanh, vật liệu xây dựng tái chế.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Chỉ khi chi phí vi phạm lớn hơn chi phí tuân thủ thì các chính sách về tái chế, kinh tế tuần hoàn và quản lý chất thải xây dựng mới có thể phát huy hiệu quả trong thực tiễn".

Có thể bạn quan tâm