Ba hiệp ước dựng nên “Hệ thống San Francisco”
Theo Reuters, kiến trúc đồng minh của Mỹ tại Thái Bình Dương hình thành từ bối cảnh một châu Á hậu chiến đầy bất định: Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949, chiến tranh bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên năm 1950, làn sóng phi thực dân hóa dâng cao, trong khi ký ức về chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản còn sâu đậm. Mỹ vừa muốn ngăn ảnh hưởng của Liên Xô (trước đây) và phong trào cộng sản, vừa cần đưa Nhật Bản trở lại đời sống quốc tế mà không làm các láng giềng thêm bất an.
Khác châu Âu với nền tảng an ninh là Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đa phương, châu Á không có nhận thức thống nhất về mối đe dọa, lại khác biệt về chế độ và mang nhiều vết thương lịch sử. Mỹ lựa chọn các hiệp ước song phương hoặc ba bên do mình làm trung tâm, đó là mô hình “trục và nan hoa”, còn gọi là “Hệ thống San Francisco”. Hiệp ước hòa bình với Nhật Bản, cũng ký tại San Francisco ngày 8/9/1951, tạo khuôn khổ cho trật tự hậu chiến mới. Hiệp ước Mỹ-Philippines có hiệu lực từ ngày 27/8/1952, quy định mỗi bên sẽ “hành động để đối phó mối nguy chung” theo quy trình hiến định nếu xảy ra tấn công vũ trang ở Thái Bình Dương. Toàn văn hiệp ước không tạo nghĩa vụ tự động đưa quân tham chiến; hình thức đáp trả vẫn tùy quyết định của mỗi bên.
ANZUS có hiệu lực ngày 29/4/1952 và cũng yêu cầu hành động theo quy trình hiến định. Australia chỉ chính thức viện dẫn hiệp ước sau vụ khủng bố nước Mỹ ngày 11/9/2001. Năm 1986, Mỹ đình chỉ nghĩa vụ với New Zealand do bất đồng về chính sách phi hạt nhân; ANZUS thực tế vận hành thành hai quan hệ Mỹ- Australia và Australia-New Zealand. Đến năm 2026, Australia và New Zealand công bố “Anzac 2035”, hướng tới khả năng phối hợp gần như liền mạch nhưng vẫn tôn trọng chủ quyền mỗi nước.
Hiệp ước Mỹ-Nhật Bản năm 1951 cho phép lực lượng Mỹ tiếp tục hiện diện. Năm 1960, nó được thay bằng văn kiện cân bằng hơn về nghĩa vụ. Hệ thống mở rộng với Hiệp ước Mỹ-Hàn Quốc năm 1953 và liên minh Mỹ-Thái Lan dựa trên Hiệp ước Manila năm 1954 cùng Thông cáo Thanat-Rusk năm 1962. Hiệp ước giữa Mỹ và hòn đảo Đài Loan (Trung Quốc) chấm dứt năm 1979; Đạo luật Quan hệ Đài Loan không biến Đài Loan thành đồng minh. Mỹ hiện có 5 đồng minh hiệp ước tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, bao gồm: Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Thái Lan.
Theo học giả Victor Cha tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và Quốc tế (CSIS), kiến trúc song phương là dạng “tấn công tổng lực” (powerplay): Vừa kiềm chế đối thủ, vừa giúp Mỹ kiểm soát đồng minh nhỏ hơn để tránh bị kéo vào chiến tranh ngoài ý muốn. Nghiên cứu của ông cho thấy, tính bất đối xứng là lựa chọn có chủ đích. Đổi lại, đồng minh nhận bảo đảm an ninh, vũ khí và tình báo; Mỹ có căn cứ, hậu cần và ảnh hưởng cách xa lãnh thổ. Hệ thống góp phần răn đe chiến tranh, hạn chế động lực phổ biến hạt nhân và tạo môi trường thuận lợi cho Đông Á phát triển, song cũng mang hai nỗi lo kinh điển: Đồng minh sợ bị Mỹ bỏ rơi và Mỹ sợ bị cuốn vào xung đột. Sự giằng co giữa “bỏ rơi” và “mắc kẹt” vẫn định hình liên minh đến nay.
Từ những “nan hoa” đến mạng lưới nhiều tầng
Vụ Khảo cứu Quốc hội (CRS) của Mỹ cho hay, hiện có khoảng 375.000 quân nhân và nhân viên dân sự thuộc Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Mỹ. Đến nay, có khoảng 53.490 quân nhân Mỹ ở Nhật Bản và 23.642 tại Hàn Quốc. Mỹ vận hành hoặc được tiếp cận hơn 40 căn cứ. Tuy nhiên, thay đổi lớn nằm ở cách lực lượng được phân tán, kết nối và chỉ huy. Nhật Bản thành lập Bộ Chỉ huy Tác chiến liên hợp tháng 3/2025 và lực lượng Mỹ tại Nhật Bản được nâng cấp để phối hợp tốt hơn với cơ quan này. Quan hệ đang đi từ “Mỹ bảo vệ, Nhật Bản cung cấp căn cứ” sang hợp tác tên lửa, không gian, mạng và sản xuất quốc phòng. Tháng 4/2026, hai nước nâng cơ chế công nghiệp quốc phòng lên DICAS 2.0 nhằm sản xuất nhanh và nhiều thiết bị quân sự hơn.
Ở sườn phía nam Thái Bình Dương, Thỏa thuận Hợp tác quốc phòng tăng cường (EDCA) cho phép quân đội Mỹ tiếp cận luân phiên 9 căn cứ thuộc chủ quyền Philippines để huấn luyện, bố trí trang bị và cứu trợ. Cuộc tập trận quân sự chung thường niên lớn nhất giữa Philippines và Mỹ (mang tên Balikatan) năm 2026 trở thành cuộc tập trận lớn nhất từ trước tới nay với hơn 17.000 quân nhân và sự tham gia của Nhật Bản, Australia, New Zealand, Canada và Pháp. Mỹ khẳng định tấn công vũ trang nhằm vào lực lượng, máy bay hoặc tàu công vụ Philippines, kể cả lực lượng bảo vệ bờ biển sẽ bị đáp trả thuộc phạm vi cam kết hợp tác an ninh hai bên.
Thông điệp của Washington năm 2026 vừa trấn an, vừa yêu cầu chia sẻ gánh nặng. Ngày 10/8 vừa qua tại Manila (Philippines), Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Elbridge Colby khẳng định nước này không rút khỏi châu Á, song cần “đối tác, không phải bên được bảo hộ”. Công thức này có thể làm liên minh cân bằng hơn song lại làm suy yếu niềm tin. Khảo sát của Viện Lowy (Australia) năm 2026 cho thấy, khoảng 73% người dân Australia vẫn coi liên minh với Mỹ là quan trọng, nhưng tỷ lệ này giảm 7% so năm 2025 và 10% so năm 2024; 68% vẫn ủng hộ mua tàu ngầm hạt nhân theo cơ chế trong AUKUS.
Tuy nhiên, AUKUS lại phơi bày khoảng cách giữa tham vọng và năng lực. Chương trình tàu ngầm có thể tiêu tốn tới 368 tỷ AUD (264 tỷ USD) trong ba thập niên. Việc chuyển giao tàu lớp Virginia cho Australia còn phải phụ thuộc năng lực đóng tàu Mỹ. Trong khi đó, Australia còn phải đào tạo nhân lực, quản lý rác thải hạt nhân kèm theo yêu cầu về bảo đảm chủ quyền. Ngày 13/8, Thủ tướng Australia Anthony Albanese khẳng định AUKUS vẫn tiến “hết tốc lực”, song biến động địa - chính trị toàn cầu đang khiến tuyên bố trên bị đặt vào thế bị động.
Trung Quốc cho rằng, AUKUS và các nhóm an ninh nhỏ mang tư duy “chiến tranh lạnh”, kích thích chạy đua vũ trang và tạo rủi ro phổ biến hạt nhân. Bộ Ngoại giao Trung Quốc phản đối chuyển vật liệu, công nghệ hạt nhân cho một nước không sở hữu vũ khí hạt nhân. AUKUS đáp lại rằng tàu chỉ mang vũ khí thông thường và Australia vẫn tuân thủ Hiệp ước Không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT), đồng thời luôn phối hợp với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) về giám sát khả năng phát triển hạt nhân. Đó là thế lưỡng nan an ninh khi bên tuyên bố phát triển năng lực có thể bị bên kia xem là chuẩn bị tiến công.
Sau 75 năm, sức mạnh lớn nhất của hệ thống kiến trúc đồng minh Mỹ là khả năng thích nghi, song điểm yếu cũng còn tồn tại. Nghĩa vụ pháp lý không đồng đều, ưu tiên của đồng minh khác nhau, chính sách của Mỹ có thể đổi theo nhiệm kỳ là những yếu tố ảnh hưởng kết cấu này. Kiến trúc đồng minh chỉ tiếp tục ổn định nếu cam kết của Mỹ đủ sự nhất quán.
Một liên minh bền vững không chỉ được đo bằng sức mạnh hiệp đồng tác chiến, mà trước hết bằng năng lực bảo đảm không để chiến tranh xảy ra. Ở tuổi 75, kiến trúc đồng minh của Mỹ ở Thái Bình Dương đứng trước lựa chọn: Trở thành tấm lưới an toàn cho một trật tự bao trùm hay đường ranh của khu vực bị chia cắt. Tương lai phụ thuộc vào khả năng chia sẻ trách nhiệm, kiểm soát rủi ro và biến ưu thế quân sự thành lợi ích hòa bình.