Tháp dân số đảo chiều
Theo Khaosod English, năm 2025, Thái Lan chỉ ghi nhận xấp xỉ 416.500 trẻ chào đời, trong khi có 559.684 người qua đời, là năm thứ 5 liên tiếp số người qua đời vượt số trẻ sinh ra và là số trẻ chào đời thấp nhất trong gần 75 năm. Mức sinh trung bình từng ở khoảng 6 con trên một phụ nữ trong thập niên 1960-1970 đã giảm xuống ở mức 1 con. Chương trình kế hoạch hóa gia đình bắt đầu từ thập niên 1970, đô thị hóa, giáo dục và y tế tốt hơn đã giúp các gia đình chủ động sinh ít. Sau đó, giá nhà, chi phí học hành và chăm trẻ, việc làm thiếu ổn định, kết hôn muộn cùng gánh nặng chăm sóc không cân xứng tiếp tục kéo mức sinh xuống thấp.
Trong khi đó, tuổi thọ trung bình đã lên 77 tuổi vào năm 2024, theo Ngân hàng Thế giới (WB). Quỹ Dân số LHQ (UNFPA) cho biết, đến giữa năm 2026, khoảng 21,6% dân số nước này đã từ 60 tuổi trở lên và tỷ lệ này có thể tăng lên mức 28,5% vào năm 2033. Trong khi đó, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) dự báo Thái Lan trở thành xã hội “siêu già” vào năm 2037. WB xếp Thái Lan là quốc gia già hóa nhanh thứ hai trong ASEAN, sau Singapore. Các nhà nghiên cứu thuộc Trường đại học Chulalongkorn lưu ý, mức sinh giảm còn phản chiếu bất bình đẳng, việc làm bấp bênh và cảm giác thiếu triển vọng của người trẻ.
Yếu tố tác động đầu tiên tới tình trạng dân số già hóa tại Thái Lan là nguồn lực lao động. Nếu tỷ lệ tham gia lao động theo tuổi và giới không đổi, WB dự báo tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động giảm từ 71% năm 2020 xuống 56% năm 2060; lực lượng lao động có thể mất 14,4 triệu người. Gần 30% lao động vẫn ở nông nghiệp - khu vực tạo ra chưa đến 10% GDP, còn lao động lớn tuổi tập trung nhiều ở việc làm thủ công, phi chính thức.
Bên cạnh đó, dù bảo hiểm y tế toàn dân là thành tựu lớn song dân số già làm tăng nhu cầu điều trị bệnh, phục hồi chức năng và chăm sóc dài hạn. WB dự báo tổng chi cho lương hưu công chức, trợ cấp người cao tuổi và y tế có thể tăng từ khoảng 6% GDP năm 2020 lên hơn 11% vào năm 2060 nếu thiếu cải cách. Trợ cấp tuổi già hiện từ 600 baht/tháng cho nhóm 60-69 tuổi, tối đa 1.000 baht đối với người từ 90 tuổi, vẫn chưa đủ bảo đảm mức sống. Theo giới chuyên gia, cải cách cần dung hòa mức hưởng đủ sống, công bằng giữa các nhóm nghề nghiệp và bền vững ngân sách. Nếu chỉ tăng chi mà không mở rộng nguồn thu, gánh nặng chi phí sinh hoạt sẽ chuyển sang thế hệ lao động đang thu hẹp và khiến tỷ lệ sinh tiếp tục giảm.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ước tính đến năm 2037, Thái Lan có thể cần thêm 250.000 nhân viên chăm sóc tại nhà, trong đó khoảng 55.000 người là lao động di cư. Ở các hộ thu nhập thấp, phụ nữ dễ bị kéo khỏi thị trường lao động đúng lúc nền kinh tế cần họ hơn, khiến tâm lý sinh con bị đè nặng. Già hóa đồng thời mở rộng “nền kinh tế bạc” - y tế, tài chính hưu trí, nhà ở thích ứng, du lịch sức khỏe và công nghệ hỗ trợ, nhưng có thể làm sâu thêm bẫy thu nhập trung bình nếu cải cách không mang lại hiệu quả.
Từ khuyến sinh đến sức chống chịu nhân khẩu học
Thái Lan bắt đầu chuyển hướng mạnh mẽ khi ban hành một chương trình ưu tiên năng lực lao động, phát triển trẻ nhỏ; chăm sóc người cao tuổi, người khuyết tật và môi trường sống liên thế hệ. Một chương trình khác cũng được mở rộng chăm sóc sinh sản, mẹ và trẻ nhỏ. Đáng chú ý, từ ngày 7/12/2025, Luật Lao động của Thái Lan chính thức nâng mức nghỉ thai sản từ 98 lên 120 ngày, trong đó người sử dụng lao động trả lương 60 ngày và lần đầu dành 15 ngày nghỉ có lương cho người lao động hỗ trợ người phối ngẫu sinh con.
Đó là bước tiến thực chất, nhưng tác động phụ thuộc phạm vi bao phủ. Nhiều lao động phi chính thức không được hưởng đầy đủ quyền nghỉ có lương, trợ cấp trẻ nhỏ còn thấp và phụ thuộc điều kiện thu nhập, dịch vụ nhà trẻ chất lượng chưa đáp ứng nhu cầu. Chính sách “Thưởng khi sinh con” có thể giảm chi phí ban đầu, song khó đảo ngược xu hướng nếu nuôi con vẫn đồng nghĩa mất thu nhập, gián đoạn nghề nghiệp và áp lực học hành kéo dài.
UNFPA gọi “khủng hoảng sinh sản thật sự” là khoảng cách giữa nguyện vọng và khả năng thực hiện nguyện vọng đó. Bà Siriluck Chiengwong, Trưởng Văn phòng UNFPA Thái Lan, nhấn mạnh, mỗi người dân phải được quyết định có con hay không, khi nào và bao nhiêu con. Nhà nước và doanh nghiệp cần tạo điều kiện khuyến khích tăng tỷ lệ sinh bằng nâng số ngày nghỉ phép sau sinh, cho phép chăm trẻ tại nơi làm việc và cải thiện bình đẳng giới. Những yếu tố này có thể giảm bất an về việc làm, nhà ở, giáo dục và chăm sóc trẻ.
Ngay cả khi mức sinh phục hồi, Thái Lan phải mất gần hai thập niên mới tái tạo thị trường lao động cân bằng. Các chuyên gia cho rằng, trước mắt nước này cần dùng tốt hơn nhân lực hiện có. Chênh lệch về khoảng cách tham gia lao động nam - nữ khoảng 20 điểm phần trăm vẫn được coi là dư địa lớn. Các giải pháp như phát triển xây dựng nhà trẻ công, tạo điều kiện làm việc linh hoạt khi nghỉ chăm con và dịch vụ chăm người già là hạ tầng giúp phụ nữ tiếp tục nghề nghiệp và an tâm sau sinh. Với người cao tuổi khỏe mạnh, cần thiết được hỗ trợ việc làm linh hoạt và điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình, có ngoại lệ cho nghề nặng và người sức khỏe kém.
Dù nguồn lao động di cư có vai trò quan trọng, nhưng không thể là “chiếc van” dùng rồi bỏ. Năm 2024, Thái Lan có hơn 3,1 triệu lao động hợp pháp từ Myanmar, Campuchia và Lào, tương đương 7,5% lực lượng lao động và khoảng 60% số việc làm giản đơn. Nếu lao động di cư tiếp tục bấp bênh, Thái Lan mất đi nguồn lực cho phát triển và cân bằng xã hội. Tiếp đó là năng suất lao động. Tự động hóa, robot và trí tuệ nhân tạo (AI) có thể bù một phần thiếu hụt, nhưng không tự cải thiện được chất lượng giáo dục, quản trị hay khoảng cách số.
Bên cạnh đó, bằng cách đầu tư vào y tế dự phòng và mạng lưới chăm sóc cộng đồng, công khai chi phí dài hạn và mở rộng nguồn thu theo lộ trình, Thái Lan có thể giải quyết bài toán nhân khẩu học hiện nay. Đầu tư vào “kinh tế chăm sóc” vừa giảm áp lực gia đình vừa tạo việc làm có kỹ năng, trong khi đầu tư vào trẻ em ưu tiên chất lượng không chỉ số lượng, bởi một thế hệ nhỏ hơn nhưng khỏe mạnh, học tốt và làm việc năng suất vẫn có thể duy trì thịnh vượng.
Thông điệp “mỗi gia đình sinh hai con” chưa thể là lời giải cho bối cảnh tỷ lệ sinh thấp hiện nay. Sự thành bại của chính sách sẽ được đo không chỉ bằng số trẻ chào đời, mà bằng năng suất lao động, triển vọng kinh tế và lập gia đình của người trẻ, sự đối xử công bằng với người di cư và cuộc sống khỏe mạnh.