Tuổi trẻ của Oskar Schindler
Oskar Schindler sinh năm 1908 ở Svitavy (một vùng đất khi ấy thuộc Đế quốc Áo - Hung, ngày nay là CH Czech). Theo Unpacked, ngay từ thời niên thiếu, Schindler đã sớm tỏ ra mình là một người có tính cách phức tạp. Ông được đặt biệt danh “Kẻ lừa đảo Schindler” vì ăn cắp vặt, làm giả bảng điểm và nhiều trò nghịch ngợm khác. Đến năm 19 tuổi, ông cưới Emilie Pelzl. Họ sẽ gắn bó với nhau trên hành trình nhân đạo vĩ đại sau này.
Về xuất thân, Schindler là người Áo - Hung nhưng có gốc Đức. Ngay khi NSDAP mở rộng ảnh hưởng tới Tiệp Khắc, Schindler đã nhìn thấy một cơ hội vàng. Đây vừa là cách ông hướng về cội nguồn, vừa là cách tìm kiếm những cơ hội làm ăn. Ông tận dụng trí thông minh và thiết lập các mối quan hệ. Đến năm 1936, Schindler đã làm việc cho tình báo Đức Quốc xã ở Tiệp Khắc. Ông chuyên bán các bí mật về đường sắt và hướng đi của quân đội địa phương cho người Đức. Điều đó giúp ông kiếm được không ít và bắt đầu giàu lên.
Schindler sau đó bị chính quyền Tiệp Khắc bắt vì làm gián điệp. Tuy nhiên, vận may đã cứu ông khi chỉ vài tháng sau, người Đức sáp nhập vùng Sudetenland ở tây nam Tiệp Khắc vào lãnh thổ của họ. Schindler giờ là người tự do. Ông chính thức xin gia nhập đảng Quốc xã và được chấp nhận.
Khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, Schindler chuyển tới Krakow (Ba Lan) và nhanh chóng hòa nhập vào cuộc sống thượng lưu của người Đức tại đây. Ông tỏ ra là một tay khéo ăn nói và không từ cơ hội nào để làm giàu. Schindler nhìn thấy cơ hội của mình từ những xí nghiệp bị bỏ lại bởi người Do Thái. Ông xin Đảng Quốc xã cho phép mình tiếp quản một nhà máy sản xuất đồ tráng men bên ngoài thành phố. Do không biết điều hành doanh nghiệp, ông thuê một người quản lý gốc Do Thái mang tên Abraham Bankier.
Schindler đã tận dụng triệt để vị thế của mình để thúc đẩy việc kinh doanh ngày càng phát đạt. Tới quãng năm 1941, ông đã xây dựng được khối tài sản mình từng mơ ước. Cùng lúc ấy, bên ngoài những bức tường nhà máy, Krakow đang thay đổi nhanh chóng. Chính sách diệt chủng của phát-xít Đức với người Do Thái được thực thi hàng loạt trong khu vực. Những công dân Do Thái cũng bị đẩy vào các nhà máy của phát-xít.
Là một doanh nhân, Schindler đương nhiên không từ chối nguồn nhân công giá rẻ ấy. Xí nghiệp của ông cũng nhanh chóng nhận về hàng nghìn người Do Thái. Nhưng khác với hầu hết công xưởng vốn thi hành các chính sách hà khắc, Schindler luôn bảo đảm cho công nhân của mình một mức sống chừng mực. Schindler vẫn ưu tiên lợi nhuận nhưng việc dành nhiều thời gian hơn bên cạnh những người Do Thái đã dần làm thay đổi điều gì đó trong ông.
Sứ mệnh nhân đạo vĩ đại
Mọi chuyện thật sự bắt đầu vào một ngày tháng 7/1942. Phát-xít Đức chiếm đóng Krakow, đánh đập bất kỳ ai cản đường và kéo hàng loạt người Do Thái lên tàu chở gia súc, hướng tới trại tập trung. Trong số này, có 14 công nhân của Schindler, bao gồm cả người quản đốc Bankier. Theo History Extra, bằng tài ứng biến, Schindler thuyết phục lính Đức rằng, ông rất cần những công nhân ấy để duy trì hoạt động. Bọn Đức tin người đồng nghiệp của mình và Schindler thở phào nhẹ nhõm khi cứu được 14 người đầu tiên.
Tuy nhiên, đó mới chỉ là khởi đầu. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn nhiều năm sau, Schindler kể lại: “Từ hôm ấy trở đi, không một kẻ biết suy nghĩ nào lại không nhận ra điều gì sẽ đến. Tôi khi ấy đã quyết tâm làm mọi thứ trong khả năng của mình để đánh bại hệ thống này”. Đó là lúc sự chuyển biến trong con người Schindler hoàn tất.
Gã thanh niên cơ hội ngày nào giờ đây đã sẵn sàng đánh đổi mọi thứ để cứu người. Schindler biết ông đang mạo hiểm cả tài sản, địa vị, thậm chí cả tính mạng của mình lẫn gia đình. Nhưng ông hoàn toàn không lo lắng. Có 370 người Do Thái làm việc tại nhà máy của ông thời điểm ấy. Ông biết mình không thể cứu được tất cả. Nhưng ông vẫn chọn cách hành động dù điều đó đồng nghĩa ông phải đối đầu những kẻ diệt chủng.
Tháng 3/1943, Đức Quốc xã xây dựng trại lao động cưỡng bức Plaszow và dồn tất cả người Do Thái trong khu vực tới đó. Nơi này thật sự là chốn địa ngục trần gian, nơi người Do Thái thường chỉ sống trung bình vài tuần dưới sự cai trị khủng bố của tên sĩ quan quốc xã Amon Goth, kẻ sau này bị xác định là tội phạm chiến tranh và bị xử tử bởi tòa án Ba Lan.
Schindler biết mình phải mưu mẹo trước một kẻ như vậy. Ông không hối lộ Goth để cứu mạng người một cách trực tiếp. Thay vào đó, ông phàn nàn về quãng đường di chuyển từ trại Plaszow tới các nhà máy, than thở về sự suy giảm năng suất lao động. Schindler thuyết phục được Goth cho phép xây một trại tập trung nhỏ hơn gần khuôn viên nhà máy. Đó rõ ràng không phải một thị trấn tươi xanh, nhưng là nơi trú ẩn an toàn hơn rất nhiều so trại tập trung cùng lò hơi ngạt.
Tại đây, không còn ai bị đánh đập tùy tiện, không ai ngất xỉu vì kiệt sức, không có chó dữ đe dọa tù nhân. Khi lương thực và thuốc men trở nên khan hiếm, Schindler bỏ tiền túi của mình ra mua. Ông liên hệ với các mạng lưới cứu trợ Do Thái, tuồn tiền và thư từ vào trại. Ông cũng làm giả danh sách, điều chỉnh công việc để ngay cả người già và ốm yếu cũng dường như vẫn duy trì được hiệu quả lao động.
Cuộc chiến càng kéo dài, tình hình càng căng thẳng. Mật vụ Đức đã nhiều lần bất ngờ xộc vào công xưởng của Schindler nhưng ông đều đánh lạc hướng được chúng. Ông sống trong căng thẳng cực độ, tính mạng luôn bị đe dọa. Đến mùa hè năm 1944, nhà máy của Schindler đã là nơi trú ẩn của hơn 1.450 tù nhân Do Thái.
Mùa thu năm 1944, trước áp lực tiến quân của Hồng quân Liên Xô, phát-xít Đức rút các nhà máy cùng nhân công Do Thái vào nội địa. Schindler một lần nữa phải hối lộ sĩ quan Đức, cho phép ông chuyển hàng nghìn công nhân tới địa điểm nhà máy mới. Nỗ lực đang được thực hiện thì Schindler bị bắt. Nhưng vài nhân sự Do Thái của ông đã nhanh chóng lập được một bản danh sách với khoảng 700 nam giới và 300 phụ nữ, thứ sau này sẽ mang cái tên huyền thoại “Danh sách Schindler”.
Quãng thời gian còn lại của Schindler còn khốc liệt hơn. Ông và các công nhân Do Thái của mình phải ở trong các khu tập trung tạm bợ do quân Đức lập nên, tiếp tục sản xuất vũ khí và đối mặt nhiều nguy hiểm hơn hẳn giữa bối cảnh căng thẳng của cuộc chiến. Nhưng với sự đồng lòng của người vợ Emilie, Schindler đã vượt qua. Ông thậm chí cứu được thêm cả trăm người từ trại tập trung Auschwitz. Đấy là lần hiếm hoi trong lịch sử, trại tập trung khét tiếng này bị cướp mất “con mồi”.
Tháng 5/1945, ác mộng của người Do Thái kết thúc khi Đức đầu hàng đồng minh. Nhưng với Schindler, nguy cơ một lần nữa xuất hiện. Là một cựu điệp viên quốc xã, là người sử dụng lao động Do Thái, ông hoàn toàn có thể bị bắt, trở thành tội phạm chiến tranh. Vợ chồng Schindler phải trốn thoát trước khi quá muộn. Schindler tập hợp những người Do Thái còn lại bên ông, khoảng 1.200 người. Ông nói với họ về hy vọng, lòng nhân đạo và xin họ đừng trả thù người dân Đức.
Các tù nhân không muốn xa rời vị cứu tinh mà không có lời cảm ơn. Họ gom số vàng còn lại, tạo hình một chiếc nhẫn, có viết trên đó dòng chữ trích từ Kinh thánh Do Thái giáo: “Ai cứu một mạng người là cứu cả thế giới”. Schindler và gia đình trở lại nước Đức, lúc này đã nằm dưới sự kiểm soát của quân Đồng minh. Họ kiệt sức, khánh kiệt và hoàn toàn tuyệt vọng. Schindler đã dốc hết mọi nguồn lực để cứu người Do Thái. Ông tuyên bố mình đã chi 2,64 triệu reich, tương đương 20 triệu USD ngày nay để cứu sống những người Do Thái và đề nghị được hoàn trả chi phí ấy.
Năm tháng sau này, việc kinh doanh của Schindler không còn phát đạt. Ông sống phần đời còn lại giữa Đức và Israel, được chăm sóc bởi những người Do Thái mà ông từng cứu mạng. Ông qua đời năm 1974 và được chôn cất ở Israel. Bia mộ ông có dòng chữ “Ân nhân không thể nào quên của 1.200 người Do Thái bị áp bức”.
Tuy nhiên, câu chuyện về lòng dũng cảm và nhân đạo phi thường của ông chỉ thật sự được thế giới nhớ tới bởi cuốn tiểu thuyết “Schindler’s List” của nhà văn Thomas Keneally (1982). Hơn 10 năm sau, kiệt tác điện ảnh cùng tên của đạo diễn lừng danh Steven Spielberg đã đưa tên tuổi Schindler nổi tiếng toàn cầu, một sự ghi nhận xứng đáng dành cho cuộc đời phi thường của ông.