Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân hơn 10% giai đoạn 2026 - 2031. Để đạt được mục tiêu này, tổng vốn đầu tư toàn xã hội cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021 - 2025. Theo đó, vốn đầu tư phải tăng bình quân 16%/năm, đưa tỷ lệ đầu tư/GDP từ khoảng 33% lên khoảng 40%.
Không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước
Theo số liệu thống kê, trong các năm gần đây, tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam duy trì ở mức khoảng 32-34% GDP. Đây là một tỷ lệ tương đối cao đối với một nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, nếu so sánh với các quốc gia như Hàn Quốc (35-38% GDP giai đoạn 1970 - 1990), Singapore (35-40% GDP), Trung Quốc (40-45% GDP giai đoạn 1990 - 2015), quy mô vốn đầu tư của Việt Nam chưa đủ để tạo bứt phá mạnh mẽ và đặc biệt hiệu quả sử dụng vốn còn hạn chế.
Do đó, song song với việc tăng yêu cầu về quy mô vốn đầu tư, hiệu quả sử dụng vốn phải được cải thiện mạnh mẽ. Lãnh đạo Chính phủ đã chỉ đạo việc giảm hệ số ICOR (tỷ lệ vốn trên sản lượng tăng thêm) từ mức bình quân khoảng 6,3 giai đoạn 2021 - 2025 xuống còn khoảng 4,8 trong giai đoạn 2026 - 2030. Điều này đồng nghĩa với việc chỉ cần 4,8 đồng vốn đầu tư để tạo ra một đồng GDP tăng thêm, thay vì 6,3 đồng như trước đây.
Xét theo cơ cấu khu vực, vốn đầu tư nhà nước cần tăng bình quân khoảng 22%/năm; vốn đầu tư khu vực ngoài nhà nước tăng khoảng 20%/năm; vốn đầu tư nước ngoài tăng khoảng 18%/năm. Tuy vậy, cơ cấu này cho thấy tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước (NSNN).
Theo TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV Việt Nam, Việt Nam đang sở hữu nhiều nguồn lực quan trọng. Trước hết, tỷ lệ tiết kiệm so với GDP hiện đạt khoảng 37%, trong khi tỷ lệ đầu tư ở mức khoảng 31% GDP. So sánh quốc tế cũng cho thấy, Việt Nam có nền tảng tích lũy tương đối tích cực, cao hơn nhiều quốc gia có trình độ phát triển tương đồng, đặc biệt trong khu vực ASEAN. Cùng với đó, khu vực tài chính đã tăng trưởng mạnh trong khoảng 15 - 16 năm qua. Tổng tài sản hệ thống ngân hàng, vốn hóa thị trường cổ phiếu, dư nợ thị trường trái phiếu và doanh thu bảo hiểm đều duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng 16,5%/năm.
Ngoài các kênh truyền thống, Việt Nam còn nhiều nguồn lực tiềm năng khác cần được khai thác hiệu quả hơn như tài chính xanh quốc tế, thặng dư thương mại, dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI), kiều hối và du lịch.
Các nguồn lực như vàng trong dân, vốn tồn đọng trong bất động sản, cùng với tiết kiệm từ chống tham nhũng, chống lãng phí cũng được đánh giá là rất lớn và cần được coi là một đột phá trong thời gian tới.
Tuy nhiên, theo TS Cấn Văn Lực, quy mô nguồn lực rất lớn này cũng đặt ra không ít thách thức đối với khả năng huy động vốn của nền kinh tế. Trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại, Việt Nam có độ mở lớn dễ chịu tác động từ các cú sốc bên ngoài. Những thách thức ngày càng gia tăng từ biến đổi khí hậu, dịch bệnh và các rủi ro phi truyền thống, khiến nhu cầu vốn ngày càng lớn trong khi các kênh dẫn vốn còn nhiều bất cập.
Tín dụng ngân hàng hiện chiếm khoảng 50-55% tổng vốn cung ứng cho nền kinh tế, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP đã lên tới khoảng 145-147% và có thể tiến sát 180% GDP vào năm 2030 nếu duy trì tốc độ tăng hiện nay. Mức độ phụ thuộc này cao hơn đáng kể so với bình quân các nền kinh tế thu nhập trung bình, tiềm ẩn rủi ro đối với an toàn tài chính vĩ mô. Các kênh dẫn vốn trung và dài hạn như thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp phát triển chậm, đóng góp hạn chế vào tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Tại Việt Nam, riêng lượng kiều hối qua hệ thống ngân hàng mỗi năm đạt khoảng 7-10 tỷ USD. Các kênh mới như trung tâm tài chính quốc tế, thị trường tài sản số (tài sản mã hóa) và thị trường carbon được kỳ vọng có thể cải thiện tính thanh khoản và khả năng luân chuyển dòng vốn nếu được thiết kế và quản lý phù hợp.
Cần chiến lược tổng thể
Vị chuyên gia này cho rằng, giải pháp then chốt trước hết là đẩy nhanh hoàn thiện thể chế. Đặc biệt, cần sớm ban hành khung pháp lý cho các mô hình, lĩnh vực mới như thị trường carbon, sàn giao dịch hàng hóa, tài sản mã hóa... Thị trường tài chính cần định hướng cân bằng hơn, giảm lệ thuộc quá mức vào tín dụng ngân hàng. Việc sử dụng các công cụ tài chính cần minh bạch, hiệu quả, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng chính sách, nhất là vai trò của Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
Tăng trưởng kinh tế phải luôn gắn với ổn định kinh tế vĩ mô. Không thể đầu tư bằng mọi giá, nhất là trong bối cảnh quy mô thị trường tài chính ngày càng lớn, tính liên thông và rủi ro hệ thống gia tăng, đòi hỏi nâng cao năng lực quản lý, giám sát khu vực tài chính.
"Cần sớm xây dựng một chiến lược tổng thể về huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực, gắn với nâng cao năng suất, chuyển đổi số và chất lượng tăng trưởng, tránh tư duy ứng phó ngắn hạn, “chữa cháy” - vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho nền kinh tế", TS Cấn Văn Lực nhấn mạnh.
Ở góc độ quản lý, bà Phạm Thị Thanh Tâm, Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) cho biết, chính sách tài chính thời gian tới sẽ tập trung vào các giải pháp huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực cho tăng trưởng. Trước hết, thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Đồng thời, tăng cường huy động vốn trong giới hạn trần nợ công, kiểm soát bội chi ngân sách và quản lý rủi ro tài khóa trung và dài hạn.
Ngân sách nhà nước tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, tập trung đầu tư vào các lĩnh vực có tính lan tỏa cao, qua đó tạo “vốn mồi” thu hút khu vực tư nhân tham gia đầu tư, đồng thời hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải và gắn phân bổ vốn với quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng.
Một trọng tâm khác là phát triển thị trường vốn theo hướng minh bạch và hiện đại, qua đó mở rộng các kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Trong đó, nâng cao quy mô và chất lượng thị trường trái phiếu Chính phủ, tái cấu trúc thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức dài hạn như quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và doanh nghiệp bảo hiểm.
Nhu cầu vốn cho hạ tầng giao thông, năng lượng và hạ tầng số rất lớn, mô hình đối tác công - tư (PPP) cần trở thành công cụ quan trọng để huy động nguồn lực ngoài ngân sách, với cơ chế chia sẻ rủi ro, minh bạch và ổn định nhằm thu hút khu vực tư nhân. Đồng thời, thị trường chứng khoán và trái phiếu sẽ tiếp tục được phát triển để trở thành kênh cung cấp vốn trung và dài hạn quan trọng cho nền kinh tế, với mục tiêu đưa quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt khoảng 100% GDP vào năm 2026.
“Vốn đầu tư nước ngoài vẫn là một trong ba trụ cột quan trọng trong tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2026-2030. Vì vậy, chính sách tài chính cần thu hút FDI có chọn lọc, tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước, đồng thời cải thiện môi trường đầu tư, cắt giảm thủ tục hành chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và tạo động lực cho tăng trưởng bền vững”, đại diện Bộ Tài chính nhấn mạnh.