Họ đã chiến đấu và sống như thế…!

70 năm trước, trên chiến trường Điện Biên Phủ, hàng nghìn thanh niên tuổi vừa mười tám, đôi mươi từ nhiều miền quê đã xông vào các trận đánh mà chẳng nghĩ tới hiểm nguy cận kề. Khi buông tay súng, trở về cuộc sống theo muôn nẻo đường đời, trong họ vẫn vẹn nguyên niềm tự hào về những tháng ngày binh lửa, và luôn tự nhắc mình “phải sống sao cho xứng với sự hy sinh của đồng đội”…!
Trong khuôn viên Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Biên Phủ, ông Dương Chí Kỳ (người ở giữa) đang kể chuyện đào hào trên đồi A1.
Trong khuôn viên Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Biên Phủ, ông Dương Chí Kỳ (người ở giữa) đang kể chuyện đào hào trên đồi A1.

Chỉ một ước mong, nơi chiến hào chiến đấu…

Tâm sự với cả nghìn người trong khán phòng của buổi gặp mặt chiến sĩ Điện Biên, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến và cán bộ, chiến sĩ các tỉnh, thành phố: Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu, Lào Cai, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong buổi sáng trung tuần tháng 4 vừa rồi, ông Dương Chí Kỳ - chiến sĩ Trung đoàn 174, Đại đoàn 316, nay đã 90 tuổi vẫn nhớ như in những ngày cùng đồng đội chiến đấu cam go khốc liệt. Đặc biệt là những ngày trong đợt ba của chiến dịch, đơn vị của ông Kỳ được tham gia làm hầm, làm đường hào vào cứ điểm A1 và đưa súng cối 82 ra trận địa từ tối ngày 5/5 đánh liên tục cho tới trưa 7/5/1954.

Ông Kỳ kể: Việc đào hầm ở đồi A1 cực kỳ gian nan, vì đất đồi rất rắn. Đêm đầu tiên đào hầm cả đội đặc biệt gồm 25 cán bộ, chiến sĩ chỉ khoét được vào vách núi mỗi chiều 90 cm, địch không ngừng bắn súng, ném lựu đạn bởi vậy phải sau ba đêm đơn vị mới đào xong cửa hầm. Khi đào sâu vào lòng núi được mười mét, bộ đội ta phải khắc phục thêm khó khăn do thiếu không khí, đèn và đuốc mang vào đều bị tắt, đất moi từ lòng núi ra ngày càng nhiều phải vận chuyển đi ngay chứ không được để tại chỗ để tránh địch phát hiện… Dù việc đào hầm, việc phòng ngự tại đồi A1 vô cùng hiểm nguy, gian nan nhưng các chiến sĩ được giao nhiệm vụ tại đây đã sẵn sàng kế hoạch chiến đấu không cho quân địch tiến xuống cửa hầm. “Dẫu hiểm nguy cận kề tính mạng nhưng người chiến sĩ không nao núng; trái lại chúng tôi càng quyết tâm nhiều hơn bởi mong ước chính là chiến thắng vì độc lập, tự do cho nhân dân, đất nước” - ông Kỳ nhấn mạnh.

Cũng làm nhiệm vụ đào hào chiến đấu tại đồi A1 ngày ấy, ông Trương Sỹ Trì (chiến sĩ Trung đoàn 174, Đại đoàn 316) vẫn nhớ như in từng vỡ đất đầu tiên mà ông cùng đồng đội đào ra từ đồi A1 cũng cữ này 70 năm trước. Ông Trì kể, việc đào hào trên đồi A1 vất vả lắm, vì ở đó địch bố trí phòng ngự dày đặc, đất lẫn đá trên đồi lại cứng, việc đào hào lại chỉ tiến hành vào ban đêm nhưng chúng tôi không ai nề hà, không ai phàn nàn dù chỉ một lời. Mỗi tối, trước khi đến ca đi đào hào, chúng tôi đều dặn nhau phải dồn sức vào đầu mũi xẻng moi đất, không được để gây thành tiếng động, không được để vướng mìn hay dây thép gai của địch mới bảo đảm bí mật, tính mạng cho anh em. Dù cẩn thận là thế nhưng cũng không tránh khỏi tổn thất. Đồng đội của tôi, rất nhiều người đã vĩnh viễn nằm lại trên đồi.

Với ông Nguyễn Hữu Chấp, khẩu đội trưởng cối 82 Đại đội 12, Tiểu đoàn 11, Trung đoàn 209, Sư đoàn 312 thì ký ức các trận đánh Him Lam, đồi D1, đồi E trong chiến dịch Điện Biên Phủ ông vẫn nhớ như in, nhớ rành rọt từng diễn biến. Ông Chấp kể: “Để tấn công vào “cánh cửa sắt Him Lam”, cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 312 được quán triệt là trận đánh khó khăn, vì ở đó quân Pháp bố trí một tiểu đoàn có 750 người thuộc bán lữ đoàn Lê dương số 13 - một trong những đơn vị thiện chiến nhất của chúng trấn giữ. Đây cũng là trận đánh mở màn chiến dịch, nên yêu cầu từ Bộ Chỉ huy chiến dịch là “phải thắng” mới động viên tinh thần bộ đội ta trên toàn chiến dịch. Để thể hiện quyết tâm, các đảng viên đều viết quyết tâm thư sẵn sàng xung phong hoàn thành nhiệm vụ ngay trong đêm 13/3, không để trận đánh kéo dài sang những ngày hôm sau”. 12 giờ đêm 12/3/1954, từ Tà Lèng, ông Chấp cùng đồng đội hành quân chiếm lĩnh trận địa, gần sáng đội hình của Đại đoàn 312 đã đến cánh đồng quanh cứ điểm. Cả ngày bao quanh cứ điểm Him Lam dưới trời nắng chang chang lại phải nghe loa của Pháp ra rả: “Điện Biên là tập đoàn cứ điểm bất khả xâm phạm, các bạn đừng nghe lời Tướng Giáp mà đánh vào. Đánh vào không còn đường về với bố mẹ”, nhưng không ai nao núng. 17 giờ ngày 13/3/1954, pháo ta tập trung bắn vào Him Lam. Ngay loạt đầu đã trúng cờ chỉ huy của Pháp trong cứ điểm nên bộ đội ta hết sức phấn khởi. Sau hơn một giờ chiến đấu, lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” đã tung bay trên cứ điểm 3; đến 22 giờ 30 phút, cứ điểm 2 cũng nằm dưới sự khống chế của ta. Một tiếng sau, 23 giờ 30 phút, Sư đoàn 312 đã hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam, diệt 300 địch, bắt sống 200 và thu toàn bộ vũ khí, trang bị. Chiến thắng giòn giã trong trận mở màn của Đại đoàn 312 tạo nên một niềm tin mãnh liệt, lan tỏa nhanh chóng đối với bộ đội ta trên toàn mặt trận…

“Xứng với những hy sinh của đồng đội!”

Đó là điều mà mỗi chiến sĩ, thanh niên xung phong hay dân công hỏa tuyến trở về từ chiến trường Điện Biên Phủ đã luôn tự nhắc bản thân, để xứng đáng với những hy sinh của đồng chí, đồng đội. Ông Trần Khắc Lộng (hiện ở quận Hoàng Mai, Hà Nội) đã tình nguyện gia nhập thanh niên xung phong phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ khi tuổi vừa 18 với nhiệm vụ là y tá cứu chữa cho các thanh niên xung phong đi phá đá mở đường, tiếp lương, tải đạn… “Cuộc chiến của chúng tôi ở các cung đường đèo núi, thác ghềnh và tôi còn phải chiến thắng với thời gian để cứu chữa cho đồng đội, vì chỉ nhanh, chậm chút thôi sự sống đã khác rồi. Chứng kiến sự khốc liệt của cuộc chiến và nỗi đau mất đồng đội trong thời gian phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ đã luôn nhắc nhở tôi phải cố gắng học tập, rèn luyện tích lũy kinh nghiệm chữa bệnh cứu người. Sau này dù đi học tập, nghiên cứu ở nước ngoài hay ngay cả khi làm quản lý bảo hiểm y tế Việt Nam thì tôi vẫn luôn tự nhắc mình giữ vững tinh thần, ý chí người thanh niên xung phong Điện Biên Phủ” - ông Trần Khắc Lộng tâm sự như thế!

Với ông Phạm Bá Miều, sau chiến dịch Điện Biên Phủ thì ông bước vào “trận chiến” mới 21 năm ở huyện nghèo biên giới Mường Tè (tỉnh Lai Châu cũ), với vô vàn gian nan, thử thách. Nhớ nhất là quãng thời gian 5 năm (1958-1963) trực tiếp phụ trách xã Hua Bum có 100% số dân là đồng bào dân tộc thiểu số không biết chữ, không biết tiếng cán bộ từ xuôi lên. Vì thế cứ thấy cán bộ người Kinh thì… bà con bỏ chạy. Để thực hiện nhiệm vụ được giao, mỗi ngày ông Miều tìm đến từng nhà gặp gỡ bà con. Ban đầu là làm quen, sau thì bằng việc làm nên dần dà bà con quen với sự có mặt của cán bộ người Kinh, họ cho cán bộ ở cùng và làm theo cách làm của cán bộ. Không phụ công sức của ông Miều và nhiều đồng chí khác, người dân xã Hua Bum đã biết cấy lúa, biết nuôi thêm con vịt, con gà để cải thiện bữa ăn. Đời sống đồng bào dân tộc ở Hua Bum dần khá hơn vì không phụ thuộc lối sống nhờ săn bắt, hái lượm...

Cảm phục sự hy sinh anh dũng và tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã bày tỏ sự tri ân sâu sắc, lời thăm hỏi thân thiết, quý mến và lời chúc mừng tốt đẹp gửi tới các đồng chí lão thành cách mạng, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, các chiến sĩ Điện Biên, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định, nhân dân Việt Nam không bao giờ quên những tấm gương anh dũng, mưu trí, sáng tạo, làm rạng danh truyền thống yêu nước nồng nàn của dân tộc ta như Anh hùng Tô Vĩnh Diện, Anh hùng Bế Văn Đàn, Anh hùng Phan Đình Giót… cùng hàng ngàn, hàng vạn chiến sĩ, đồng bào đã kiên cường, dũng cảm không sợ hy sinh, gian khổ với tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”….